- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI –––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:137/2022/HS-ST Ngày: 16-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Rmah HThuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bạch Quảng
2. Ông Quách Đình Hoằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Yến-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Lý Văn T (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1981 tại Quảng Ngãi.
Nơi đăng ký HKTT; Tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 3, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà Lý Thị H (không rõ cha là ai); Bị cáo có vợ tên là Phan Thị H’N (đã ly hôn) và có 02, lớn nhất sinh năm 2008 và nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, ngày 17-4-2020, bị Tòa án nhân dân thành phố P Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; thời hạn 24 tháng. Ngày 21-11-2021, chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Về nhân thân: Ngày 22-9-2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử, tuyên phạt 06 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Chấp hành án tại Trại giam Xuân Phước. Ngày 27-4-2018, chấp hành xong bản án (lần kết án này, Lý Văn T đã được xóa án tích).
Ngày 29-11-2019, bị Công an phường Phù Đổng, thành phố P xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm phạm sức khỏe người khác” và đã chấp hành xong.
Bị cáo Lý Văn T bị tạm giữ từ ngày 13-5-2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Ông Hoàng Văn L -Người chứng kiến. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Văn T là người có sử dụng chất ma túy. Qua mối quan hệ ngoài xã hội, T biết đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người có bán ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 12-5-2022, do cần ma túy để sử dụng nên T thuê xe ôm của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đi đến đường L gặp T1. Tại đây, T hỏi mua của T1g 02 gói ma túy (loại Heroine), T1 đồng ý và bán cho T 02 gói giấy bên trong chứa ma túy (loại Heroine) với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đem về phòng trọ số 07 thuộc khu nhà trọ số 33/12 đường T, tổ 3, phường H, thành phố P. Tại đây, Tuấn trích ma túy vừa mua được ra, lấy 01 ít sử dụng; số ma túy còn lại, T phân chia thành 03 gói nhỏ rồi cất giấu trên cửa thông gió trong nhà vệ sinh nơi T thuê ở, nhằm mục đích để sử dụng dần. Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 13-5-2022, khi T đang ở trong phòng trọ trên thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang; thu giữ trên cửa thông gió trong nhà vệ sinh nơi T thuê ở 03 gói (02 gói giấy kẻ ô ly và 01 gói giấy bạc) bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng cục, bột.
Tại Bản kết luận giám định số 328/KLGĐ ngày 21-5-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng cục, bột trong 03 (ba) gói giấy trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,3674 gam”.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.
Tại Bản Cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T với mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù.
2. Đề nghị căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 328/PC09 ngày 21-5-2022 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
3.Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 13-5-2022, khi Tuấn đang ở trong phòng trọ số 07 thuộc khu nhà trọ số 33/12 đường T, tổ 3, phường H, thành phố P thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang; thu giữ trên cửa thông gió trong nhà vệ sinh nơi T thuê ở 03 gói (02 gói giấy kẻ ô ly và 01 gói giấy bạc) bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng cục, bột. Qua giám định, xác định 03 gói chứa chất rắn màu trắng, dạng cục, bột mà Lý Văn T tàng trữ để sử dụng là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3674 gam.
Hành vi tàng trữ 0,3674 gam chất ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng do bị cáo Lý Văn T thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Lý Văn T hoàn toàn nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng do bản thân có sử dụng ma túy, bị cáo đã bất chấp pháp luật và đã đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,3674 gam chất ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm của pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
. Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì công văn ghi số 328/PC09 ngày 21-5-2022 là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo Lý Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với đối tượng tên T1 là người đã bán ma túy cho bị cáo T. Hiện nay, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên chưa có căn cứ xử lý, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào xác định được thì xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (13-5-2022).
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì công văn ghi số 328/PC09 ngày 21-5-2022, có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-9-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).
4. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Công an thành phố P; - Nhà tạm giữ-Công an thành phố P; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Rmah HThuyên |