- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2022/HS-ST Ngày: 16-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Anh
2. Ông Lê Văn Khanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 168/2022/TLST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1985, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số D đường H, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Lê Hồng V, sinh năm 1968; hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T và có 03 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất, sinh năm 2018; tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 23/4/2007, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” theo qui định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2006 (Bản án số 360/2007/HSST). Được đặt xá ngày 30/8/2010, đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo bị bắt ngày 21/3/2022 (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lý Trưởng N, sinh năm 1989; Trú tại: H đường N, phường P, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).
Người làm chứng:
1/ Ông Võ Thanh L, sinh năm 1988; Trú tại : Số M đường số Y, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
2/ Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1982; Trú tại : Số X đường T, phường B, quận K, thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 21/3/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Tân phối hợp Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân tuần tra đến trước nhà số 575 Tỉnh lộ 10, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân phát hiện Lê Văn T đang điều khiển xe mô tô biển số 59D1 – 624.xx có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay phải của T đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Yet, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Nghi vấn là ma túy nên Công an phường Bình Trị Đông B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T cùng vật chứng của vụ án. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an quận Bình Tân giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định;
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Yet
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, số thuê bao 0335.990.xxx, bị cáo T dùng liên lạc mua ma túy.
- 01 (một) xe mô tô biển số 59D1-624.xx. Bị cáo T khai mượn xe của một người bạn tên N (không rõ lai lịch) để đi công việc, anh N không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của T. Kết quả xác minh chủ sở hữu xe trên là anh Lý Trưởng N. Anh N khai khoảng tháng 01/2021 có một người bạn tên L (không rõ lai lịch) nhờ anh N đứng tên chủ sở hữu xe trên do Lan không có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh N không biết lai lịch của L, không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ.
Những vật chứng trên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân tạm giữ, chờ xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 1765/KLGĐ-H ngày 28/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Văn T, Lý Văn Dương (Điều tra viên), Lê Hoàng T (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5548g, loại Heroin.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 21/3/2022 T đi đến khu vực đường Tỉnh lộ 10 mua số ma túy trên của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng, sau đó T điều khiển xe trên đường Tỉnh Lộ 10, phường Bình Trị Đông B thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ; mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 04/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon niêm phong. Bên trong chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T(Đương sự), Lê Hoàng T(Người chứng kiến), Lý Văn Dương(Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, chữ ký của giám định viên cán bộ điều tra qua; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YET; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel, có số thuê bao 0335990xxx và 01 chiếc xe mô tô biển số 59D1-624.xx.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Lê Văn T Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra , bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự qui định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bỡi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên Tàng trữ trái phép chất ma túy, bất chấp những qui định kể cả sự trừng trị của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, từ bỏ con đường nghiện ngập mà phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo, tàng trữ ma túy qua giám định có khối lượng 1,5548g loại Heroin. Do dó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để truy tố bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật
Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân xấu mặc dù đã được xóa án. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh cảnh bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
Về vật chứng vụ án: 01 gói nylon niêm phong. Bên trong chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T(Đương sự), Lê Hoàng T (Người chứng kiến), Lý Văn Dương(Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, chữ ký của giám định viên cán bộ điều tra qua giám định là Heroin có khối lượng 1,5548g là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YET là vật bị cáo dùng để chứa ma túy Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel, có số thuê bao 0335990xxx bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 mô tô biển số 59D1-624.xx qua xác minh do ông Lý Trưởng N đứng tên chủ sở hữu. Anh N khai vào tháng 01/2021 có một người bạn tên L nhờ anh đứng tên dùm, anh N cũng không biết lai lịch của L. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến nhận. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân tiếp tục đăng thông tin tìm chủ sở hữu chiếc xe nói trên trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày tuyên án nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với người phụ nữ (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân chưa có cơ sở để xử lý khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2022.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon niêm phong. Bên trong chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T(Đương sự), Lê Hoàng T(Người chứng kiến), Lý Văn Dương(Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, chữ ký của giám định viên cán bộ điều tra và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YET.
Tich thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel, có số thuê bao 0335990xxx.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân Tân tiếp tục đăng thông tin tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 59D1-624.xx trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày tuyên án nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK22/150TAM ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân)
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Bình Tân; - Công an quận Bình Tân; - Viện kiểm sát quận Bình Tân; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tín |