- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Văn N Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 137/2022/HS-ST Ngày: 16 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ghên
2. Bà Nguyễn Thị Rạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Thạch Văn N, sinh ngày 06/9/1994, tại Cà Mau;
Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề N: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch Văn S và bà Lê Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2022 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Nguyễn Hữu N, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp A, xã Y, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt)
2/ Huỳnh Hoài L, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
3/ Phạm Thị Hoài G, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1/ Trần Bằng P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyên Đ, tỉnh Long
An. (vắng mặt)
2/ Hồ Phương T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 31/7/2022, bị cáo Thạch Văn N đi bộ từ nhà trọ thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực chợ đồn C thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An gặp một người phụ nữ không xác định nhân thân lai lịch mua 600.000 đồng chất ma túy tổng hợp (dạng đá), người phụ nữ bán cho bị cáo N 01 gói nylon rãnh khép viền màu đỏ bên trong có 06 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là chất ma túy tổng hợp (dạng đá). Sau đó, bị cáo N đưa chất ma túy vừa mua được về nhà trọ cất giấu trong tủ sắt để trên gác. Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 02/8/2022, khi bị cáo N và Nguyễn Hữu N đang ngủ trên tầng trên; Huỳnh Hoài L và Phạm Thị Hoài G ở trọ cùng nhà với bị cáo N đang ngủ dưới tầng trệt thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tạm giữ bị cáo N và vật chứng vụ án.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 gói nylon rãnh khép viền đỏ bên trong có 06 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá; 01 tủ sắt loại nhỏ, màu trắng - đen.
Tại Kết luận giám định số 719 ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận:
“Tinh thể màu trắng đựng trong 06 (sáu) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,8639 gam, loại: Methamphetamine.”
Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định được lưu tại Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Long An.
Hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7479 gam và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong./.”
Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Văn N hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKSĐH ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Thạch Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Thạch Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Thạch Văn N mức hình phạt từ 2 năm tù đến 2 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022; áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Thạch Văn N 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7479 gam và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An: đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tủ sắt loại nhỏ, màu trắng – đen dùng để cất giấu ma túy, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Thạch Văn N không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.
Đối với Nguyễn Hữu N; Huỳnh Hoài L; Phạm Thị Hoài G không biết việc bị cáo Thạch Văn N cất giấu ma túy trong tủ sắt trên gác phòng trọ nên hành vi của Nguyễn Hữu N; Huỳnh Hoài L; Phạm Thị Hoài G không cấu thành tội phạm có liên quan nên đề nghị không xem xét.
Đối với người phụ nữ bán chất ma túy cho bị cáo N, do không xác định nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo N, không có căn cứ xử lý nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Thạch Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Thạch Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 02 tháng 8 năm 2022 cùng với bản kết luận giám định số 719/KT-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Thạch Văn N là người nghiện ma túy, khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Thạch Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 06 gói nylon hàn kín bên trong có khối lượng: 0,8639 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo Thạch Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Thạch Văn N theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Thạch Văn N phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội bị cáo N còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo N trình bày không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Thạch Văn N.
. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Thạch Văn N không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7479 gam và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tủ sắt loại nhỏ, màu trắng – đen dùng để cất giấu ma túy, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
. Đối với Nguyễn Hữu N; Huỳnh Hoài L; Phạm Thị Hoài G không biết việc bị cáo Thạch Văn N cất giấu ma túy trong tủ sắt trên gác phòng trọ nên hành vi của Nguyễn Hữu N; Huỳnh Hoài L; Phạm Thị Hoài G không cấu thành tội phạm có liên quan nên không xem xét.
Đối với người phụ nữ bán chất ma túy cho bị cáo N, do không xác định nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo N, không có căn cứ xử lý nên không xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Thạch Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thạch Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Thạch Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Thạch Văn N 45 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2022) để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7479 gam và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 tủ sắt loại nhỏ màu trắng – đen.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17 ngày 21/10/2022.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Thạch Văn N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Rạt – Nguyễn Thanh Hoàng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Rạt – Nguyễn Thanh Hoàng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Rạt – Nguyễn Thanh Hoàng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Rạt – Nguyễn Thanh Hoàng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA T HẨM PHÁN – CHỦ Trần Thị Kim Thảnh TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh |