- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị H với anh H1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phan Thị Xuân H đối với bị đơn anh Lê Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2022 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương
2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 498/2022/TLST–HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Xuân H, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã H, huyện Ch, tỉnh Bến Tre; hiện cư trú tại: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Thôn A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; hiện cư trú tại: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Xuân H trình bày: Chị và anh Lê Văn H1 đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Ch, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường hay cãi nhau, bên cạnh đó anh H1 không chăm lo cho vợ con. Từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đến tháng 5 năm 2022 vợ chồng chị sống ly thân. Nay chị thấy cuộc hôn nhân của chị không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H1. Về con chung: chị và anh H1 có 01 người con chung là Lê Phan Thiên K, sinh ngày 17/3/2017, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Bị đơn anh Lê Văn H1 đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét nguyên đơn chị Phan Thị Xuân H có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lê Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Xuân H và anh Lê Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân H, huyện Ch, tỉnh Bến Tre vào năm 2016 đúng với quy định tại các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H1 do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không còn sống chung từ tháng 5 năm 2022. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho chị H và anh H1 tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Còn chị H kiên quyết ly hôn với anh H1. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H đối với anh H1.
Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh H1 có 01 người con chung là Lê Phan Thiên K, sinh ngày 17/3/2017. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, anh H1 không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của chị H. Xét thấy, con chung hiện đang sống với chị H, được chị H chăm sóc và có cuộc sống ổn định. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị H tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày chị và anh H1 không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phan Thị Xuân H đối với bị đơn anh Lê Văn H1.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Xuân H và anh Lê Văn H1.
Về nuôi con chung: Giao cho chị Phan Thị Xuân H trực tiếp nuôi con chung là Lê Phan Thiên K, sinh ngày 17/3/2017. Chị Phan Thị Xuân H không yêu cầu anh Lê Văn H1 cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Chị Phan Thị Xuân H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004788 ngày 19/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND H, huyện Ch, tỉnh Bến Tre (Giấy chứng nhận kết hôn số 20 năm 216); - Lưu: VT. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Minh Hiệp |