vanban.org

Bản án 137/2022/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L.

Công nhận sự tự nguyện của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L là bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Văn D về việc đồng ý giao phần đất có diện tích 173,7m2 (trên đó có 03 ngôi mộ của ng ời thân bà Phan Th P, 04 bụi tầm vông, 05 bụi trúc, 02 cây chuối và 01 cây duối cao do … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND Quy định diện tích tối thiểu đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2022/DS-ST
Ngày: 21/4/2022
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà V Th Thanh H ơng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn P Trinh;

2. Bà Phạm Th Ngọc.

- Th ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Th Trang, Th ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Tiền, Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2022 và ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 421/2017/TLDS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022, Quyết đ nh hoãn phiên tòa số: 87/2021/QĐST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2022, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Th L, sinh năm 1939;

Đ a chỉ: Số 66, đ ờng số 625, Tổ 4, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Trần Th L đã chết ngày 08/4/2020.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn:

1/ Bà Nguyễn Th Ngọc H, sinh năm 1966 (có mặt);

Đ a chỉ: Số 123 quốc lộ 22, Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt);

Đ a chỉ: Số 38, đ ờng 609, Tổ 2, ấp T, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Phan Th P, sinh ngày 02/6/1962 (vắng mặt);

Đ a chỉ: Số 38, đ ờng 616, Tổ 5, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Đặng Anh T, sinh năm 1962 (vắng mặt); Đ a chỉ: Số 38, đ ờng 616, Tổ 5, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Nguyễn Th Luynh P, sinh năm 1984; Đ a chỉ: Tổ 3, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Th Ngọc H, sinh năm 1966; Đ a chỉ: Số 123 quốc lộ 22, Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3/ Bà Nguyễn Th Xuân H, sinh năm 1991; Đ a chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Th Ngọc H, sinh năm 1966; Đ a chỉ: Số 123 quốc lộ 22, Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

4/ Bà Nguyễn Th Tuyết A, sinh năm 1986; Đ a chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Th Ngọc H, sinh năm 1966; Đ a chỉ: Số 123 quốc lộ 22, Tổ 1, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 10 năm 2017, nguyên đơn bà Trần Th L yêu cầu nh sau: Yêu cầu bà Phan Th P trả lại diện tích đất 181m2 thuộc thửa 596 tờ bản đồ số 9 tại xã P, huyện C mà bà P đã lấn chiếm để chôn 03 cái mộ và trồng tre, trúc trên đất của bà, buộc bà P tự di dời 03 cái mộ và tự chặt tre, trúc để trả lại hiện trạng đất ban đầu cho bà.

- Ngày 19/02/2019 nguyên đơn bà Trần Th L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, bà L yêu cầu bà Phan Th P trả lại diện tích đất 173,7m2 thuộc thửa 596 tờ bản đồ số 9 tại xã P, huyện C mà bà P đã lấn chiếm để chôn 03 cái mộ và trồng tre, trúc trên đất của bà, buộc bà P tự di dời 03 cái mộ và tự chặt tre, trúc để trả lại hiện trạng đất ban đầu cho bà.

- Bà Trần Th L chết ngày 08/4/2020, bà Nguyễn Th Ngọc H là ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L đồng thời là ng ời đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Th Luynh P, bà Nguyễn Th Xuân H và bà Nguyễn Th Tuyết A, trình bày:

Mẹ bà là bà Trần Th L sở hữu một phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 590470, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 368 QSDĐ/ĐG do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp ngày 8/9/2000, cập nhật biến đổi ngày 17/12/2014, ngày 03/6/2016, ngày 27/07/2017, đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay mẹ bà đã chết. Mẹ bà có tất cả 03 ng ời con gồm: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1968 và bà là Nguyễn Th Ngọc H, sinh năm 1966. Mẹ bà chết để lại di chúc phần đất trên cho 03 con của bà là Nguyễn Th Luynh P, Nguyễn Th Xuân H và Nguyễn Th Tuyết A. Phần đất để lại thừa kế hiện bà Phan Th P lấn chiếm đất để chôn 3 cái mộ và có trồng tre, trúc trên đất thuộc thửa đất số 596 với diện tích là 173,7m2. Với t cách là ng ời kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà L và là ng ời đại diện theo ủy quyền của các con, bà đ a ra ph ơng án giải quyết nh sau:

Ph ơng án 1, bà P tự di dời 03 ngôi mộ của gia đình bà P, 01 lối đi từ nhà bà P ra 03 ngôi mộ, chặt tre trúc để trả lại nguyên hiện trạng đất ban đầu;

Ph ơng án 2, bà đồng ý chừa phần diện tích đất trên đó có 03 ngôi mộ để gia đình bà P không phải di dời mộ, 01 lối đi từ nhà bà P ra 03 ngôi mộ, đồng thời bà P phải trả cho gia đình bà phần đất chừa 03 ngôi mộ và lối đi ra ngôi mộ là 3.000.000đ/m2, ngoài phần diện tích của 03 ngôi mộ, phần đất còn lại do bà P lấn chiếm phải trả lại, bà P phải tự phá bỏ hàng tầm vông, trúc của bà P trồng để trả lại đất trống cho bà;

Ph ơng án 3, nếu bà P không di dời mộ c ng không trả tiền t ơng ứng với giá tr đất 03 ngôi mộ và không chặt tre trúc trả lại hiện trạng đất ban đầu thì đất của mẹ bà đến đâu thì sẽ rào đến đó, bà P không có quyền đi vào đất của mẹ bà và qua lại trên 03 ngôi mộ. Bà di dời 03 ngôi mộ đi đâu là quyền của bà.

* Tại phiên tòa, bà Nguyễn Th Ngọc H trình bày:

Bà đồng ý để lại phần đất có diện tích 173,7m2, đất thuộc một phần thửa 596 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q590470, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 368QSDĐ/ĐG do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho Trần Th L ngày 08/9/2000, trên đó có 03 ngôi mộ cho bà P quản lý sử dụng; bà P có nghĩa vụ bồi hoàn lại giá tr quyền sử dụng phần đất cho phía gia đình bà L là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn đồng).

Trên diện tích đất 173,7m2 có 03 ngôi mộ đ ợc xây bằng gạch đất nung; 04 bụi tầm vông; 05 bụi trúc; 02 cây chuối; 01 cây duối cao của bà P trồng, hiện trạng không có gì thay đổi.

Bà P đang đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 1268m2 gồm các thửa 597,598,598-1 tờ bản đồ số 9 theo GCNQSDĐ số V 484797, vào sổ cấp GCN số 183 ngày 07//8/2002, đất liền kề với phần đất đang tranh chấp. Bà không có yêu cầu gì đối với ông Đặng Anh T (chồng của bà P) vì phần đất mà bà P đang đứng tên quyền sử dụng là đất của bên bà P, không phải của ông T.

* Tại các bản tự khai và tại biên bản hòa giải, ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L là ông Nguyễn Văn D trình bày:

Mẹ ông là bà Trần Th L có tất cả 03 ng ời con gồm: Nguyễn Văn D, Nguyễn Th Ngọc H và Nguyễn Hồng T. Nay mẹ ông đã chết và để lại di chúc cho 03 ng ời con của bà Nguyễn Th Ngọc H thừa kế trong đó có phần đất đang tranh chấp. Ông thống nhất với ý kiến của bà H. Ông không có ý kiến gì bổ sung thêm.

Tr ờng hợp Tòa án buộc bà P phải trả tiền bồi th ờng đất đã lấn chiếm cho bà H thì ông không có ý kiến gì, đồng thời ông c ng đồng ý cho bà H nhận toàn bộ số tiền bồi th ờng.

* Tại bản tự khai ngày 17/01/2017, tại bản tự khai ngày 16/3/2018 và tại biên bản hòa giải ngày 19/02/2019, b đơn bà Phan Th P trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông nội bà để lại cho gia đình bà từ năm 1976.

Tr ớc năm 1975 ông bà nội bà sử dụng, sau năm 1975 chú bà là ông Phan Văn U tiếp tục canh tác. Đến năm 1976 gia đình bà về và chú U chia cho ba của bà một phần đất diện tích là 1268m2 tại ấp M, xã P, huyện C. Gia đình bà bỏ ra 181m2 để làm mồ mã cha mẹ. Trong phần đất đó có 03 ngôi mộ của cha mẹ bà và anh của bà. Năm 1998 bà có bốc 03 ngôi mộ ở phía tr ớc nhà bà để chôn ra phía sau nhà (do đất tr ớc nhà b ngập n ớc) và hiện trạng 03 ngôi mộ đó vẫn giữ nguyên từ năm 1998 đến nay. Tr ớc đây ranh giới đất giữa gia đình bà và gia đình bà L là cách nhau hàng tầm vông và có 01 con đ ờng đi do hai bên tự bỏ đất ra để làm ranh đất. Bà thật sự không biết 03 ngôi mộ của gia đình bà lại nằm trên phần đất của bà L. Bà đồng ý trả phần đất đã lấn lại cho bà L, bà chỉ xin bà L chừa ra diện tích 03 ngôi mộ để tránh việc di dời mộ và yên lòng ng ời đã khuất. Bà sẽ phá bỏ hàng tầm vông, trúc do bà trồng trên đất của bà L để trả lại đất trống cho bà L.

Chồng bà là ông Đặng Anh T. Bà và ông T chung sống với nhau từ năm 1980 và có đăng ký kết hôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử vụ án, Th ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử ngh án: Ngoài việc vi phạm thời hạn chuẩn b xét xử thì từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đ ợc phân công giải quyết vụ án c ng nh Hội đồng xét xử sơ thẩm và Th ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của ng ời tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử ngh án: Ng ời tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề ngh Hội đồng xét xử: Công nhận sự tự nguyện của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L về việc đồng ý để lại phần đất có diện tích 173,7m2, đất thuộc một phần thửa số 596 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 590470, vào sổ cấp GCN số 368QSDĐ/ĐG ngày 08/9/2000 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho Trần Th L trên đó có 03 ngôi mộ cho bà Phan Th P quản lý sử dụng; bà P có nghĩa vụ bồi hoàn lại giá tr quyền sử dụng phần đất diện tích 173,7m2 cho những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L (là bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Văn D) số tiền là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng), ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; ngay sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bồi hoàn giá tr quyền sử dụng đất cho bà H và ông D thì bà P đ ợc quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đ ợc quy đ nh tại Khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; quyền sử dụng đất tranh chấp tọa lạc tại xã P Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Trần Th L là nguyên đơn trong vụ án nh ng bà L đã chết, chồng bà L là ông Nguyễn Văn T c ng đã chết nên các con của bà L là ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L. Bà L có 03 ng ời con là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Hồng T. Do ông Nguyễn Hồng T đã chết vào ngày 20/9/2020, không vợ con nên Hội đồng xét xử không đ a ông T vào tham gia tố tụng với t cách là ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L.

Ông Nguyễn Văn D có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông D.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà Phan Th P: Thông báo kết quả phiên họp; Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022 kèm Giấy triệu tập; Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 87/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2021 kèm Giấy triệu tập nh ng tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bà P mà không rõ lý do nên căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà P.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Đặng Anh T: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 421/2017/TLST-DS ngày 30/10/2017; các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022 kèm Giấy triệu tập; Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 87/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2021 kèm Giấy triệu tập nh ng tại phiên tòa hôm nay, ông T vắng mặt mà không rõ lý do nên căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung:

Xét lời trình bày của các đ ơng sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy:

Phần đất tranh chấp có diện tích 173,7m2, thuộc một phần thửa số 596 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 590470, vào sổ cấp GCN số 368QSDĐ/ĐG do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho Trần Th L ngày 08/9/2000, trên đó có 03 ngôi mộ là mộ ng ời thân của bà P, 04 bụi tầm vông, 05 bụi trúc, 02 cây chuối và 01 cây duối cao, tất cả đều là do bà P trồng.

Mặc dù tại phiên tòa, bà P vắng mặt nh ng trong quá trình giải quyết vụ án, bà P khai rằng năm 1998 bà P có di dời 03 ngôi mộ ở phía tr ớc nhà của bà P để chôn ra sau nhà (do đất tr ớc nhà bà b ngập n ớc) và hiện trạng 03 ngôi mộ đó vẫn giữ nguyên từ năm 1998 đến nay. Tr ớc đây ranh giới đất giữa gia đình bà và gia đình bà L là cách nhau hàng tầm vông và có 01 con đ ờng đi do hai bên tự bỏ đất ra để làm ranh đất. Bà thật sự không biết 03 ngôi mộ của gia đình bà lại nằm trên phần đất của bà L. Bà đồng ý trả phần đất đã lấn lại cho bà L, bà chỉ xin bà L chừa ra diện tích đất có 03 ngôi mộ để tránh việc di dời mộ và yên lòng ng ơi đã khuất. Bà sẽ phá bỏ hàng tầm vông, trúc do bà trồng trên đất của bà L để trả lại đất trống cho bà L. Nh vậy bà P c ng thừa nhận phần đất có diện tích 173,7m2, trên đó có 03 ngôi mộ là đất của bà L, vì vậy những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L là ông D ng và bà H có quyền yêu cầu bà P di dời các ngôi mộ của gia đình bà P ra khỏi đất mà bà L đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.

Tuy nhiên tại phiên tòa, bà H đồng ý để lại phần đất đang tranh chấp có diện tích 173,7m2, đất thuộc một phần thửa số 596 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh trên đó có 03 ngôi mộ cho bà P quản lý sử dụng và yêu cầu bà P có nghĩa vụ phải bồi hoàn lại giá tr quyền sử dụng phần đất tranh chấp với số tiền là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng).

Xét thấy, căn cứ chứng th thẩm đ nh giá số 181400937/HCM ngày 28/3/2018 của Công ty Cổ phần Giám đ nh Thẩm đ nh Sài Gòn đối với tài sản đang tranh chấp là quyền sử dụng đất diện tích 173,7m2 do phía nguyên đơn cung cấp thì phần đất diện tích 173,7m2 nêu trên có tr giá là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng). Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo kết quả thẩm đ nh giá trên cho bà P và bà P c ng không có ý kiến gì đối với giá tr phần đất nêu trên, c ng nh không có yêu cầu đ nh giá lại tài sản tranh chấp nên việc phía nguyên đơn đồng ý nhận giá tr quyền sử dụng đất với số tiền 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng) từ bà P và giao phần đất lại cho bà P quản lý, sử dụng là có căn cứ, phù hợp quy đ nh của pháp luật.

Nh vậy cần buộc bà P phải bồi hoàn giá tr diện tích đất 173,7m2 với số tiền là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng) cho bà H và ông D là những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

Kể từ ngày bà H và ông D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà P còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét thấy phần diện tích đất 173,7m2 giao cho bà P không đảm bảo diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy đ nh của pháp luật nh ng do trên đất có 03 ngôi mộ của ng ời thân bà P, thời gian chôn các ngôi mộ trên đất c ng đã lâu, bà P có nguyện vọng tiếp tục sử dụng phần đất để giữ nguyên hiện trạng các ngôi mộ; ngoài ra bà P c ng đang đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 1268m2 gồm các thửa 597,598,598-1 tờ bản đồ số 9 theo GCNQSDĐ số V 484797, vào sổ cấp GCN số 183 ngày 07/8/2002, phần đất của bà P liền kề với thửa đất số 596 của bà L, do đó việc cấp quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp 173,7m2 mà bà L đang đứng tên quyền sử dụng qua cho bà P đứng tên quyền sử dụng là có căn cứ. Vì vậy bà H và ông D ng có trách nhiệm ký chuyển quyền sử dụng diện tích đất 173,7m2 qua cho bà P đứng tên quyền sử dụng là phù hợp.

Tại biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 27/3/2019, trên phần đất đang tranh chấp ngoài 03 ngôi mộ đ ợc xây bằng gạch đất nung của gia đình bà P còn có 04 bụi tầm vông, 05 bụi trúc, 02 cây chuối và 01 cây duối cao do bà P trồng, vì bà H và ông D đồng ý giao đất cho bà P nên các loại cây trồng trên đất thuộc quyền sở hữu của bà P, Hội đồng xét xử không xem xét giá tr các loại cây trồng trên đất.

Đối với việc bà L có lập di chúc để lại toàn bộ phần đất theo GCNQSĐ số 590470, vào sổ cấp GCN số 368QSDĐ/ĐG ngày 08/9/2000 do bà L đứng tên cho bà Nguyễn Th Luynh P, bà Nguyễn Th Xuân H và bà Nguyễn Th Tuyết A, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết thừa kế tài sản theo di chúc trong vụ án này vì các đ ơng sự không có yêu cầu, khi nào có tranh chấp phát sinh thì đ ơng sự sẽ đ ợc quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác theo quy đ nh của pháp luật.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D là ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L vắng mặt nh ng quá trình giải quyết vụ án, ông D đều thống nhất với ý kiến của bà H, tr ờng hợp Tòa án buộc bà P phải bồi th ờng tiền đất đã lấn chiếm cho bà H thì ông c ng không có ý kiến và đồng ý để bà H nhận toàn bộ số tiền bồi th ờng, điều này thể hiện ý chí của ông D hoàn toàn thống nhất với ý kiến của bà H nên việc ghi nhận sự tự nguyện của bà H tại phiên tòa là có căn cứ.

Những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L không có yêu cầu gì đối với ông Đặng Anh T (chồng của bà P) do phần đất mà bà P đang đứng tên quyền sử dụng liền kề với đất tranh chấp là đất của bên bà P, không phải của ông T nên không xét.

Từ sự phân tích trên, xét thấy đề ngh của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ và thẩm đ nh giá:

Tại phiên tòa, bà H tự nguyện ch u chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ và thẩm đ nh giá, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

Bà P phải nộp án phí theo quy đ nh của pháp luật và hoàn tiền tạm ứng án phí cho những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L.

V các l trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 74, Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ vào Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 95, Điều 99, Điều 105, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ Điều 5 của Quyết đ nh số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy đ nh về diện tích tối thiểu đ ợc phép tách thửa đất trên đ a bàn Thành phố Hồ Chí Minh;

- Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L.

Công nhận sự tự nguyện của những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L là bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Văn D về việc đồng ý giao phần đất có diện tích 173,7m2 (trên đó có 03 ngôi mộ của ng ời thân bà Phan Th P, 04 bụi tầm vông, 05 bụi trúc, 02 cây chuối và 01 cây duối cao do bà P trồng), đất thuộc một phần thửa 596 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 590470, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 368QSDĐ/ĐG do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho Trần Th L ngày 08/9/2000, cho bà Phan Th P quản lý, sử dụng (theo bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc Bản đồ Hoàng Th nh lập và đ ợc kiểm tra nội nghiệp ngày 10/01/2018);

Bà Phan Th P có nghĩa vụ bồi hoàn lại giá tr quyền sử dụng phần đất diện tích 173,7m2 nh vừa nêu ở trên cho bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Văn D số tiền là 170.573.400đ (Một trăm bảy m ơi triệu năm trăm bảy m ơi ba nghìn bốn trăm đồng), thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà H và ông D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà P còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngay sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ bồi hoàn giá tr quyền sử dụng đất cho bà H và ông D, bà P đ ợc quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục kê khai đăng ký để đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất nh vừa nêu ở trên theo quy đ nh của pháp luật.

2. Về chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ và thẩm đ nh giá:

Bà H tự nguyện ch u chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và thẩm đ nh giá nên ghi nhận.

3. Về án phí:

Bà P phải nộp án phí là 8.528.670đ (Tám triệu năm trăm hai m ơi tám nghìn sáu trăm bảy m ơi đồng).

Hoàn tiền tạm ứng án phí 3.167.500đ (Ba triệu một trăm sáu m ơi bảy nghìn năm trăm đồng) cho những ng ời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Th L là bà Nguyễn Th Ngọc H và ông Nguyễn Văn D theo biên lai thu tiền số 0007548 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

Đ ơng sự có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đ ơng sự vắng mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc ngày bản án đ ợc niêm yết.

Trường hợp n án, quyết định được thi h nh theo quy định tại iều u t Thi h nh án dân s th người được thi h nh án dân s , người ph i thi h nh án dân s có quyền th a thu n thi h nh án, quyền yêu c u thi h nh án, t nguyện thi h nh án ho c ị cư ng chế thi h nh án theo quy định tại các iều , v

u t Thi h nh án dân s thời hiệu thi h nh án được th c hiện theo quy định tại điều 0 u t Thi h nh án dân s .

Cỡ chữ