- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài N bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1, Điều 251Bộ luật Hình sự năm 2015. - phạm tội mua bán trái phép…"
- Tòa quyết gì? Nguyễn Hoài N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 4 năm 2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2019/HSST Ngày 16 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
2. Bà Lương Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ Tòa án nhân dân quân Ba Đình. Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 140/2019/TL - HSST ngày 24 tháng 7 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2019 đối với:
Bị cáo Nguyễn Hoài N, sinh năm 1979; Đăng ký hộ khẩu: Số 05 L, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội và nơi ở: Số 01 ngách 05, ngõ 71 P, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn B (đã chết); Họ và tên mẹ: Lại Thị H, sinh năm: 1949; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 04; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Tố N, sinh năm 1981; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: có 02 tiền án - Ngày 29/12/2003: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ra trại ngày 10/04/2004. - Ngày 13/03/2018: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa xóa án tích). Ra trại ngày 31/01/2019. Bắt quả tang ngày 10/4/2019. Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội. Số giam: 2094 T1/21B. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại ngã tư Chu Văn An – Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ba Đình phát hiện Nguyễn Văn Linh (Sinh năm: 1987; HKTT: 15B/6 Vạn Phúc, phường Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội) điều khiển xe máy BKS 29U7 – 1103 chở đằng sau Nguyễn Hoài N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Kiểm tra đối với N, tổ công tác thu giữ trong lòng bàn tay trái 02 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, N khai nhận đó là Heroine vừa mua để mang đi bán kiếm lời. Kiểm tra đối với Linh, tổ công tác không phát hiện và thu giữ được gì liên quan đến ma túy. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của N 01 xe máy BKS 29U7 – 1103, 01 điện thoại di động hiệu FPT đã cũ, 10.000 đồng. Thu giữ của Linh 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105. Tổ công tác đã đưa N và Linh cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoài N khai nhận như sau: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10 tháng 4 năm 2019, khi N và Linh đang ở nhà của N thì một người đàn ông tên Hải sử dụng số điện thoại 0922549768 gọi cho N hỏi mua 02 gói Heroine và bảo đến bệnh viện Xanh Pôn gặp anh ta, Nam đồng ý. Sau đó, Nam bảo Linh dùng xe máy BKS 29U7 – 1103 chở đến bệnh viện Xanh Pôn. Đến nơi, Nam xuống xe bảo Linh đứng chờ còn một mình gặp Hải, Hải đưa cho N 470.000 đồng để mua 02 gói Heroine. N cầm tiền, quay lại chỗ Linh đứng chờ và bảo Linh chở đến khu vực nhà máy nước Yên Phụ. Khi đi đến đầu dốc Cửa Bắc, gần nhà máy nước, N bảo Linh dừng xe còn một mình đi về hướng nhà máy nước. Tại đây, N đã mua 02 gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000đ. Mua xong, Nam quay lại chỗ Linh rồi nhờ Linh chở về bệnh viện Xanh Pôn để bán ma túy cho Hải. Khi đi đến ngã tư Chu Văn An – Trần Phú, Ba Đình thì N bị đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Ba Đình phát hiện và thu giữ số ma túy trên.
Ngoài ra, Nguyễn Hoài N khai nhận trước đó vào ngày 08 tháng 4 năm 2019, Nam đã bán 01 gói Heroine cho Hải với giá 220.000 đồng. Sau đó, Nam thay đổi lời khai, không thừa nhận việc bán ma túy ngày 08/4/2019. Quá trình điều tra, không có tài liệu chứng minh việc Nam bán ma túy ngày 08 tháng 4 năm 2019.
Việc Nguyễn Hoài N có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn Linh không biết nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với Linh. Cơ quan điều tra đã trao trả 01 điện thoại di động Nokia 105 cho Nguyễn Văn Linh.
Kết luận giám định số: 2365/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đều là Heroine, tổng khối lượng 0,208 gam”.
Cáo trạng số: 142/CT-VKS ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền án (01 tiền án đã xóa, 01 tiền án chưa xóa), lần phạm tội này là “tái phạm”, thái độ khai báo thành khẩn.
Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong trong chứa 0,208 gam Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng. Tịch thu, sung công quỹ 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu FPT mãu xanh đã cũ, có số IMEI: 980028008364684; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng. Truy thu bị cáo 60.000 đồng thu lời bất chính để nộp ngân sách nhà nước.
Đối tượng bán, mua ma túy của Nguyễn Hoài N, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy BKS 29U7 – 1103 thu giữ của Nguyễn Hoài N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Tố Như, sinh năm: 1981; HKTT: Số 05 L, phường C, Đ, Hà Nội là vợ của Nguyễn Hoài N. Việc Nam sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy, chị Như không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe cho chị Như.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình, bị cáo đang ốm đau bệnh tật, con bị cáo còn nhỏ, mẹ bị cáo đã già yếu.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;
[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/04/2019, tại ngã tư Chu Văn An – Trần Phú, phường Điện Biên, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,208 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời đã bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ba Đình bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Những nội dung về thời gian, địa điểm, đặc điểm, trọng lượng và các tang vật bị thu giữ khi bán ma túy là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền án (01 tiền án đã xóa, 01 tiền án chưa xóa):
- Ngày 29/12/2003: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ra trại ngày 10/04/2004 (đã xóa án tích); - Ngày 13/03/2018: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 31/01/2019 (chưa xóa án tích). Lần phạm tội này là “tái phạm”. Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án: 01 tiền án chưa xóa án tích, do đó lần phạm tội này được xác định là “tái phạm”. Vì vậy cần áp dụng điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó cần thiết áp dụng Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong trong chứa 0,208 gam Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng. Tịch thu, sung công quỹ 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu FPT màu xanh đã cũ, có số IMEI: 980028008364684; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng. Truy thu bị cáo số tiền 60.000 đồng thu lời bất chính do hành vi bán ma túy mà có để nộp ngân sách Nhà nước.
Đối tượng bán ma túy và mua ma túy của bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy BKS 29U7 – 1103 Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe cho chị Như theo đúng quy định của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Nguyễn Hoài N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 4 năm 2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong trong chứa 0,208 gam Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng. Tịch thu, sung công quỹ 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu FPT màu xanh đã cũ, có số IMEI: 980028008364684 theo biên bản giao vật chứng số 146 CSĐT(ĐTMT) ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 (Mười nghìn) đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.106.1691 tại Kho bạc Nhà nước ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình. Truy thu bị cáo số tiền 60.000 (Sáu mươi nghìn) đồng do thu lời bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 16 tháng 8 năm 2019./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Long |