vanban.org

Bản án 137/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hồ Thị An Na.

Về án phí: bà Hồ Thị An Na phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0020253 ngày 02/4/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh. Các đương sự có quyền làm đơn kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị An Na - Dương Thanh Sáng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hồ Thị An Na.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG
———————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2019/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hoàng Phúc

Ông Nguyễn Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Dung là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị An Na.

Địa chỉ: khu vực 3, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Thanh Sáng.

Địa chỉ: khu vực 3, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/10/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị An Na trình bày:

Bà Na và ông Dương Thanh Sáng kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do vợ chồng không phù hợp tính cách nên thường xuyên cãi vã nhau, ông Sáng có hành vi bạo hành đối với bà Na, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân nhau được bảy tháng nay.

Về con chung: bà Na và ông Sáng có 02 con chung tên Dương Quốc Minh (giới tính: Nam), sinh ngày 14/7/2011 và Dương Triệu Mẫn (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/9/2017, từ trước đến nay 02 cháu Minh và Mẫn sống chung với bà Na. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: không có.

Bà Hồ Thị An Na khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: bà Na yêu cầu được ly hôn với ông Sáng.

Về con chung: bà Na yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi vợ chồng ly hôn. Bà Na không yêu cầu ông Sáng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Dương Thanh Sáng vắng mặt trong toàn bộ tiến trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, đồng thời chưa thể hiện ý kiến của mình bằng văn bản đối với nội dung tranh chấp trong vụ án.

Những nội dung mà các đương sự đã thống nhất thỏa thuận được: không.

Những nội dung mà các đương sự không thống nhất thỏa thuận được: toàn bộ nội dung tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: bà Hồ Thị An Na khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Thanh Sáng, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Do đó, đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Đối với ông Dương Thanh Sáng dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Sáng.

Về hôn nhân: bà Na và ông Sáng kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của bà Na và ông Sáng được công nhận là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng không phù hợp tính cách nên thường xuyên cãi vã nhau, ông Sáng có hành vi bạo hành đối với bà Na, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân nhau được bảy tháng nay. Từ đó cho thấy hôn nhân của bà Na và ông Sáng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, bà Na cương quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho bà Na được ly hôn với ông Sáng.

Về con chung: quá trình chung sống bà Na và ông Sáng có 02 con chung tên Dương Quốc Minh (giới tính: Nam), sinh ngày 14/7/2011 và Dương Triệu Mẫn (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/9/2017. Bà Na yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn. Tòa án thấy rằng: từ trước đến nay 02 cháu Minh và Mẫn sống chung với bà Na đã ổn định, nguyện vọng của cháu Minh muốn được sống chung với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn, còn cháu Mẫn hiện nay dưới 36 tháng tuổi, bà Na hiện nay có nghề nghiệp ổn định có khả năng nuôi dưỡng 02 con chung. Sau khi cân nhắc việc đảm bảo quyền lợi của 02 cháu Minh và Mẫn sau khi cha mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và giáo dục. Tòa án căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quyết định giao 02 cháu Minh và Mẫn cho bà Na được quyền trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: ông Sáng chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Na chưa yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có tranh chấp, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Na phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hồ Thị An Na. Về hôn nhân: bà Hồ Thị An Na được ly hôn với ông Dương Thanh Sáng. Về con chung: sau khi ly hôn, bà Hồ Thị An Na được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Dương Quốc Minh (giới tính: Nam), sinh ngày 14/7/2011 và Dương Triệu Mẫn (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/9/2017. Ông Dương Thanh Sáng chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Hồ Thị An Na chưa yêu cầu. Ông Dương Thanh Sáng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí: bà Hồ Thị An Na phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0020253 ngày 02/4/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ