vanban.org

Bản án 137/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ Lường Văn T1 và Lường Văn T2, bắt ngày 14/3/2018 (0,41 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu). Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu đỏ đen, bàn phím đã bị mờ, điện thoại đã qua sử dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T và đồng bọn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2018/HSST
Ngày 19/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hiệu và ông Lò Anh Đông.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Lường Văn T1, sinh năm: 1994 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu A, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn S1 và bà Nguyễn Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 3 năm 2018 đến nay; có mặt.

2. Lường Văn T2, sinh năm: 1991 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu A, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn S2 và bà Hà Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 3 năm 2018 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lường Văn S2, sinh năm:1968, nơi cư trú: Tiểu khu A, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21h ngày 14/3/2018, tổ công tác của Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản B, xã L, huyện M dừng xe máy kiểm tra hành chính về ma túy với Lường Văn T1 và Lường Văn T2. Quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của Lường Văn T1 có 01 gói ni lon mầu hồng, bên trong đựng 09 viên nén hình tròn mầu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma tuý tổng hợp. T1 và T2 khai nhận đó là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) cả hai góp tiền mua về để sử dụng. Về nguồn gốc ma túy các đối tượng khai là mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết ở khu vực đường biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản B, xã L, huyện M.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải các đối tượng về Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập để điều tra làm rõ, tạm giữ của Lường Văn T2 01 xe máy BSK 26G1 - 090.74; 01 điện thoại di động.

Ngày 15/3/2018 Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập quyết định khởi tố vụ án đồng thời chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 15/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã quyết định chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày 15/3/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng 09 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Lường Văn T1 và Lường Văn T2 có trọng lượng 0,93 gam. Lấy 0,52 gam làm mẫu trưng cầu giám định xác định có phải là chất ma túy không? Thuộc loại chất ma túy gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu giám định là bao nhiêu? Mẫu có ký hiệu T.

Tại kết luận giám định số 421 ngày 20/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,93 gam loại Methamphetamine”.

Cáo trạng số 93/CT-VKSMC ngày 08/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lường Văn T1 và Lường Văn T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T2 từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,41 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu;

Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động và 01 sim của Lường Văn T2.

Giao trả 01 xe máy nhãn hiệu SYM BSK 26G1 - 090.74 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trần Thị N thu giữ của của Lường Văn T2 cho ông Lường Văn S2 là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.

4. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Ngày 14/3/2018 các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 09 viên Methamphetaminne ( Hồng phiến) ma túy tổng hợp, có khối lượng là 0,93 gam mục đích để sử dụng.

Căn cứ vào kết luận giám định. Căn cứ vào lời khai, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 14/3/2018 Lường Văn T1 và Lường Văn T2 đã có hành vi cất giấu 0,93 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của các bị cáo thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Các bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vai trò đồng phạm:

Lường Văn T1 là người khởi sướng việc đi mua ma tuý về sử dụng chung, đóng góp tiền đi mua ma tuý, là người trực tiếp hỏi mua ma tuý và cất giữ ma tuý nên giữ vai trò chính.

Lường Văn T2 là người cùng T1 đi mua ma tuý về cùng sử dụng chung, chuẩn bị phương tiện xe máy cùng góp tiền đi mua ma tuý, là đồng phạm.

Xét cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt phù hợp với vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,41 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280 thu giữ của Lường Văn T2, xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cầm tạm giữ để đảm bảo thi hành án về phần án phí.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SYM BSK 26G1 - 090.74 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trần Thị N thu giữ của của Lường Văn T2 xét thấy là tài sản hợp pháp của ông Lường Văn S2, ông S2 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên giao trả chiếc xe máy cho ông Lường Văn S2 là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lường Văn T1 và Lường Văn T2 (như các bị cáo khai) quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của các bị cáo còn trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14/3/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, ĐIều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T2 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14/3/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ Lường Văn T1 và Lường Văn T2, bắt ngày 14/3/2018 (0,41 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu đỏ đen, bàn phím đã bị mờ, điện thoại đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong, kèm 01 sim thu giữ của Lường Văn T2 để đảm bảo thi hành án về phần án phí HSST.

Giao trả cho ông Lường Văn S2 01 xe máy nhãn hiệu SYM, màu đen bạc, BSK 26G1 - 090.74 , sm + sk 025252, không có gương chiếu hậu, cách yếm bên phải đã bị vỡ, xe đã qua sử dụng cũ để quản lý, sử dụng và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Thị N.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Lường Văn T1 và Lường Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ