vanban.org

Bản án 137/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 18/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày23/7/2018. 2/ Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phongdán kín mặt trước có ghi mẫu vật hoàn trả QT01, số 119/PC54-MT.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Bản!án!số:!137/2018/HS-ST
Ngày!18!-!10!-!2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.

Các!Hội!thẩm!nhân!dân:Bà Nguyễn Thị Chương và ông Đặng Văn Đức.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2018/TLHS-HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo:

Bùi Quang T, sinh năm 1978 tại Hà Nam; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q(đã chết) và bà Phạm Thị X (sinh năm 1954); Vợ: Nguyễn Thị L (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/3/2014 Công an phường L, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2018 và chuyển tạm giam từ ngày 29/7/2018 đến nay; Có mặt.

- Những!người!tham!gia!tố!tụng!khác:!

+!Người!làm!chứng:Trương Đình L sinh năm 1973. Trú tại: Tổ 6, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 23/7/2018 Bùi Quang T đang ở nhà thì lên cơn nghiện ma túy, T đi ra đường thì gặp một người đàn ông đi đường (không quen biết) và hỏi mượn điện thoại của người này gọi cho một người thanh niên tên là H khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi xin H ma túy để sử dụng), H đồng ý. Sau đó T trả điện thoại cho người đàn ông rồi đi bộ ra cầu L thuộc tổ dân phố M, phường , thành phố P để gặp H. T đứng đợi một lúc thì H đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đến đưa cho T 01 gói ma túy bọc bằng giấy bạc màu vàng rồi điều khiển xe đi. Biết đó là gói ma túy nên T cầm trong lòng bàn tay phải để đi tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an phường H, thành phố P phát hiện thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra, T liền thả gói ma túy xuống dưới đất cạnh chân thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ T khai nhận gói giấy bạc màu vàng là gói ma túy T cất giữ mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa Bùi Quang T cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Ngày 24/7/2018 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở, đồ vật, tài sản của Bùi Quang T. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 119/PC54-MT ngày 25/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận “Mẫu!bột!màu!trắng!dạng!cục!trong! phong! bì! ký! hiệu! QT01! gửi! giám! định! là! ma! túy,! có! khối! lượng! 0,257! gam,! loại! Heroine”.!!

(Heroine! là! chất! ma! túy! nằm! trong! danh! mục! I,! STT09,! Nghị! định! 73/2018/NĐ-CP!ngày!15/5/2018!của!Chính!phủ).!

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSTP ngày 25/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Bùi Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 24đến 30 tháng tù đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng, không phạt tiền bổ sung bị cáo.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 23/7/2018 tại khu vực tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Bùi Quang T cất giấu trái phép 0,257 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường H, thành phố P phát hiện bắt quả tang.((Heroine!là!chất!ma!túy!nằm!trong! danh!mục!I,!STT09,!Nghị!định!73/2018/NĐ-CP!ngày!15/5/2018!của!Chính!phủ).!

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.!

[3] Đánh giá về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.Hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp hơn trên địa bàn thành phố Phủ Lý

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “đánh bạc”, mặc dù đã được xóa tiền sự nhưng cũng thể hiện bị cáo coi thường pháp luật.

Khi lượng hình cũng cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với hành vi phạm tội đủ để cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng. Xét mục đích phạm tội không nhằm mục đích trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[4] Xử lý vật chứng: đối với toàn bộ số ma túy cùng bao gói thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Các tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông tên H đã đưa ma túy cho T, T khai không biết nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để HĐXX xử lý trong vụ án này. Yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục điều tra để làm rõ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Bị cáođược thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì!các!lẽ!trên:!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50BLHS.

Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày23/7/2018.

2/ Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phongdán kín mặt trước có ghi mẫu vật hoàn trả QT01, số 119/PC54-MT.

Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/9/2018 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý.

4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp: 200.000đ (Hai!trăm!nghìn! đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáocó mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ