- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bặt D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bă ̣t D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2017/HSST Ngày 27-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thi ̣ Thanh Huyền.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Hă ̣c.
2. Ông Lò Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Ngần Thi ̣ Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 144/2017/HSST ngày15 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Lê Bă ̣t D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/11/1990 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT: Tổ 6, phườ ng Q, thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Tổ 4, phườ ng Q , thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lê Bă ̣t N (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1952; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lê Bă ̣t D bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 05/6/2017 tại khu vực tổ 04, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Lê Bă ̣t D bị tổ công tác phối hợp gồm Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế – ma túy Công an thành phố Sơn La và Công an phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (mô ̣t) chiếc vi da màu nâu, hiê ̣u H2 Wallet Fashion, bên trong vi có
́
́ 01 gói nilon mầu trắng , xanh, vàng chứa 46 viên nén hinh tròn màu hồng và 01
̀ gói giấy bạc chứ a 25 viên nén hinh tròn màu hồng (thu giữ ta ̣i túi quần bên trái
̀ phía trước D đang mă ̣c, D khai nhâ ̣n là hồng phiến).
- 01 bao thuốc lá hiê ̣u White Horse bên trong có 01 gói nilon mầu trắng chứ a 55 viên nén hinh tròn mầu hồng (thu giữ ta ̣i túi quần bên phải phia trướ c D
̀
́ mă ̣c, D khai nhâ ̣n là hồng phiến).
- 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu đen , phía trên màn hình có dòng chữ
DOCOMO đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Quá trình điều tra, Lê Bặt D khai nhận:
Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 05/6/2017 Lê Bă ̣t D đi bộ từ nhà tại tổ 4, phườ ng Q, thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La ra đường đón xe ô tô khách xuống khu vực bản Hin Phá, xã Chiềng Hắc, huyện Mô ̣c Châu, tỉnh Sơn La, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, D xuống xe đi bô ̣ thi gặp và
̀ hỏi mua được của một người nam giớ i không biết ho ̣ tên, đi ̣a chi 130 viên hổ
̀ng phiến vớ i giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Sau đó, D cất số ma túy mua được vào người rồi đón xe ô tô khách quay trở về nhà ta ̣i tổ 4, phườ ng Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. D lấy 04 viên hồng phiến ra sử du ̣ng hết , còn 46 viên gói trong gói nilon màu trắng, xanh, vàng; 25 viên gói trong gói giấy ba ̣c cho vào vi
́ da màu nâu nhãn hiệu H2 Wallet Fashion cất giấu ta ̣i túi quần bên trái phia trướ c
́ đang mă ̣c; 55 viên gói trong gói nilon màu trắng cho vào 01 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse cất giấu trong túi quần bên phải phia trướ c đang mă ̣c vớ i mu ̣c đic h
́
́ để bản thân sử dụng dần . Khoảng 9h 45 phút ngày 06/6/2017 khi D đang ở nhà thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng thu giữ.
Ngày 06/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả:
- 46 viên nén hinh tròn màu hồng trong gói nilon màu trắng xanh, vàng có
̀ trọng lượng 4,29 gam. Lấy 10 viên có tro ̣ng lượng 0,95gam làm mẫ u gử i giám đi ̣nh ký hiệu LD1.
- 25 viên nén hinh tròn màu hồng trong gói giấy ba ̣c có tro ̣ng lượng 2,69
̀ gam. Lấy 10 viên có tro ̣ng lượng 0,94gam làm mẫu gử i giám đi ̣nh ký hiệu LD3.
- 55 viên nén hinh tròn màu hồng trong bao thuốc lá hiê ̣u White Horse có
̀ trọng lượng 5,14 gam. Lấy 10 viên có tro ̣ng lượng 0,98gam làm mẫu gử i giám đi ̣nh ký hiệu LD5.
Tổng số viên nén trong cả 03 gói là 126 viên nén màu hồng, có tổng trọng lượng là 12,12 gam.
Tại Kết luận giám định số 583/KLMT ngày 09/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu LD1, LD3, LD5 là chất ma túy, loại chất methamphetamine; trọng lượng của mẫu giám định là LD1 = 0,95 gam; LD3 = 0,94 gam; LD5 = 0,98gam. Tổng tro ̣ng lượng ma túy thu giữ là 12,12 gam, loại chất methamphetamine.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lê Bă ̣t D khai mua của một người nam giớ i không biết ho ̣ , tên, đi ̣a chi ở ̉ đâu , tại khu vực bản Hin Phá , xã Chiềng Hắc, huyện Mô ̣c Châu, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 112/KSĐT ngày 12/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lê Bă ̣t D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Bă ̣t D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Bă ̣t D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt Lê Bă ̣t D từ 36 đến 42 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lê Bặt D - Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 06/6/2017 tại tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La gồm: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 (một) mảnh ni lon màu trắng-xanh-vàng + 01 (một) mảnh giấy bạc + 01 (một) mảnh ni lon màu trắng + mẫu ký hiệu LD2=3,34 gam; LD4=1,75gam; LD6=4,16gam”, mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu nhãn hiệu H2 Wallet Fashion qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse.
Trả lại cho bị cáo Lê Bặt D: 01 (một) chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu màu đen, màn hình bị nứt vỡ, phía trên màn hình có chữ Docomo, số Imei 5 số cuối 6340/1 qua sử dụng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bă ̣t D nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Do nghiện chất ma túy, ngày 05/6/2017, Lê Bặt D đã có hành vi cất giấu trái phép 12,12 gam methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 06/6/2017 tại tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Lê Bă ̣t D cùng vật chứng thu giữ là 03 (ba) gói nilon và giấy bạc bên trong có chứa 126 viên nén màu hồng, có tổng trọng lượng 12,12 gam; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 583/KLMT ngày 09/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Anh Q sinh năm 1989, trú tại: Bản K, xã N, huyê ̣n Mai Sơn, tỉnh Sơn La và anh Phạm Văn T sinh năm 1990, trú tại: Bản M, phườ ng C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Bă ̣t D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lê Bă ̣t D phạm tội với tổng trọng lượng 12,12 gam methamphetamine, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người nam giớ i tại khu vực bản Hin Phá , xã Chiềng Hắc , huyện Mô ̣c Châu, tỉnh Sơn La, D khai là người đã b án ma túy cho D, nhưng D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Lê Bă ̣t D buộc phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
Vật chứng vụ án:
Đối với 9,25 gam methamphetamine còn lại sau khi trừ đi số lượng đưa đi giám định đã được niêm phong theo quy định của pháp luật là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 (một) mảnh nilon màu trắng-xanh-vàng + 01 (một) mảnh giấy bạc + 01 (một) mảnh nilon màu trắng không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu nhãn hiệu H2 Wallet Fashion qua sử dụng: quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Lê Bặt D, bị cáo dùng để cất giấu ma túy, do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse: quá trình điều tra xác định là vật dụng bị cáo Lê Bặt D dùng để cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu màu đen, màn hình bị nứt vỡ, phía trên màn hình có chữ Docomo, số Imei 5 số cuối 6340/1 qua sử dụng: quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Lê Bặt D, bị cáo không dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không liên lạc trao đổi mua bán ma túy, do đó cần trả lại cho bị cáo.
Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Bă ̣t D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt Lê Bă ̣t D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 06/6/2017). Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lê Bặt D - Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 06/6/2017 tại tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La gồm: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 (một) mảnh ni lon màu trắng-xanh-vàng + 01 (một) mảnh giấy bạc + 01 (một) mảnh ni lon màu trắng + mẫu ký hiệu LD2=3,34 gam; LD4=1,75gam; LD6=4,16gam”, mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu nhãn hiệu H2 Wallet Fashion qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse.
- Trả lại cho bị cáo Lê Bặt D: 01 (một) chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu màu đen, màn hình bị nứt vỡ, phía trên màn hình có chữ Docomo, số Imei 5 số cuối 6340/1 qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Bă ̣t D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2017)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Cầm Thi ̣ Thanh Huyền |