- Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN T PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2020/HS - ST Ngày: 23/12/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, T PHỐ HÀ NỘI
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Viết Khai và bà Đỗ Thị Kim Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Tín
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, T phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2020/TLST - HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST - HS, ngày 07 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc T, sinh năm 1986 tại Hà Nội; Trú tại thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, T phố Hà Nội; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo không; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Con ông Phạm Văn Tất và bà Phạm Thị Liêm (Phạm Thị Thanh Liêm); Chưa vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 28 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, ra trại ngày 09/02/2020; Đặc điểm khác về nhân thân: Ngày 10/09/2010, bị Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Trì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 02 (hai) năm do nghiện ma tú; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2020 đến nay (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1991; Trú tại: thôn Đông Trạch, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 ngày 30/09/2020, Phạm Ngọc T mượn xe mô tô, biển kiểm soát 33M3-1282 của Phạm Văn T, đi đến khu vực đê sông con thuộc địa phận Đội 5, xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, TP Hà gặp và mua của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy heroine bên ngoài bọc giấy màu vàng, bên trong có 02 (hai) gói nhỏ bọc giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. T cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đi đến khu vực đường làng thuộc địa phận đội 5, xã Tự Nhiên, huyện thường Tín, T phố Hà Nội, T bị Công an xã Tự Nhiên bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 8729/KLGĐ - PC09 ngày 07/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,112 gam.
Tại cáo trạng số 118/CT - VKS ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận hành vi như nội dung nêu trên. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 30/9/2020, tại địa phận đội 5, xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, T phố Hà Nội, Phạm Ngọc T đang tàng trữ 02 gói ma túy loại Hêrôin, có trọng lượng 0, 112 gam thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Nhân thân bị cáo có một tiền án chưa được xóa án nay lại phạm tội do cố ý, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điển h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó cần áp dụng hình phạt tù với thời gian các ly xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở T người tốt và răn đe những người khác không phạm tội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy bị cáo đã khai báo T khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy đã thu giữ trong vụ án cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 33M3-1282: quá trình điều tra xác định ngày 30/9/2020, Phạm Ngọc T mượn chiếc xe trên của Phạm Văn T, nhưng T khai chiếc xe trên T mua lại của một người phụ nữ không quen biết vào năm 2013, hiện nay T đã là mất giấy tờ mua bán và đăng ký xe. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên ra quyết định tách tài liệu đối với chiếc xe trên để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ra các quyết định tố tụng hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/9/2020).
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Phạm Ngọc T và giám định viên, bên trong chứa ma túy loại Heroin (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2020 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín).
3. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn Huy phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND T phố Hà Nội; - VKSND huyện Thường Tín; - Công an huyện Thường Tín; - Thi hành án dân sự huyện Thường Tín; - Lưu hồ sơ, vp… | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Tuấn |