- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mến - Hai"
- Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136 /2017/HNGĐ-ST Ngày: 28-12-2017 V/v tranh chấp: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Ngọc Viễn
2. Bà Nguyễn Thị Hơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ - Thư lý Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Xuân.-Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 619/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp Xin ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134 /2017/QĐXX-ST ngày 16 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị M, sinh năm: 1978
Địa chỉ: tổ 14 ấp H, xã P, Tp Mỹ Tho, Tiền Giang.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1975
Địa chỉ: tổ 14 ấp H, xã P, Tp Mỹ Tho, Tiền Giang.
(Có mặt bà M, vắng mặt ông H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 27/9/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày: do mai mối nên vào năm 1999 bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống vợ chồng, vợ chồng có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 118 ngày 02/10/2002. Trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 06 năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do ông H không lo làm ăn, thường xuyên nhậu say về kiếm chuyện chưởi, đánh đập vợ, dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng hơn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 08 năm 2017 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Minh D, sinh ngày 06/6/2000 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/6/2009. Khi ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng việc nuôi chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo phiên hoà giải, quyết định xét xử, quyết định hoản phiên toà nhưng vẫn không có ý kiến gì và không có mặt để dự phiên toà mà không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Lê Thị M và ông Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 118 ngày 02/10/2002. Ngày 27/9/2017 bà M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H đây là tranh chấp xin ly hôn được quy định tại điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt quyết định xét xử, quyết định hoản phiên tòa hợp lệ nhưng không có mặt để dự phiên tòa mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H là có căn cứ đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Về hôn nhân: bà Lê Thị M và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1999 được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 06 năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do ông H không lo làm ăn, thường xuyên nhậu say về kiếm chuyện chưởi, đánh đập vợ, dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng hơn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 08 năm 2017 cho đến nay. Sau khi Toà án thụ lý vụ án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông H để thông báo về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của bà M, nhưng ông H không có ý kiến gì và không có mặt tham gia phiên hoà giải mà không có lý do, khi Toà án xét xử đã triệu tập ông H đến để tham dự phiên toà, nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, nên không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc ông H không đến dự phiên toà là ông mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Xét thấy, đời sống vợ chồng giữa bà M và ông H đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có hai con chung là Nguyễn Minh D, sinh ngày 06/6/2000 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/6/2009. Tại phiên tòa bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/6/2009, ông H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh D, sinh ngày 06/6/2000. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng việc nuôi chung. Do ông H không đến dự phiên toà nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu về nuôi dưỡng con chung. Cháu T có nguyện vọng muốn được sống với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn, cháu D thì có nguyện vọng muốn được sống với ba sau khi ba mẹ ly hôn. Nên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu T khi ly hôn của bà M, giao cháu D cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H và bà M có quyền đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở ông H, bà M thực hiện quyền này .
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu và đề nghị: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và đương sự tuân thủ theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, cho bà M được ly hôn với ông H, con chung giao bà M nuôi dưỡng cháu T, ông H nuôi dưỡng cháu D, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà M phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 189, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
2- Về con chung: - giao cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/6/2009 cho bà Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng.
- Giao cháu Nguyễn Minh D, sinh ngày 06/6/2000 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M, ông H không yêu cầu. Ông H, bà M có quyền đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở ông H, bà M thực hiện quyền này .
3- Về án phí: Bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011540 ngày 09/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà M có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - UBND xã P - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Ngọc Tuyền |