- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ Chuyên - lan"
- Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2018/DS-PT Ngày: 27/11/2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” |
NHNHÂÂNN DDAANNHH
NƯNƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Liên – Thư ký Tòa án nhân dân t nh Lâm Đ ng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Lâm Đ ng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2018/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 04/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố DL bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2018/QĐ-PT ngày 29/10/2018; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 134/2018/QĐ-PT ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân t nh Lâm Đ ng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H ng Ch, sinh năm: 1976;
Địa ch : Số X TKD, phường y, thành phố Đà Lạt
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Chị Lê Thị Yến V, sinh năm:
1992;
Địa ch : Số x ĐT, phường y, thành phố Đà Lạt
(Văn bản ủy quyền lập ngày 09/3/2018)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm: 1958;
Địa ch : Số x cư xá HV, phường z, thành phố Đà Lạt
Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H ng Ch.
(Chị V có mặt tại phiên tòa; bà L vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI D NG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2018 và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Ch cũng như chị Lê Thị Yến V là người đại diện theo ủy quyền cho bà Ch trình bày:
Bà Ch và bà L trước đây không quen biết nhau, tình cờ bà Ch biết được bà L cần tiền để đóng thuế nhà đất nên ngày 31/3/2016, bà Nguyễn Thị H ng Ch và bà Nguyễn Thị Thu L có ký hợp đ ng vay tiền tại Văn phòng công chứng DL, với nội dung: Bà Ch cho bà L vay số tiền là 150 000 000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng; lãi suất theo lãi suất ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ký hợp đ ng, không thế chấp Sau khi ký hợp đ ng bà Ch đã giao tiền cho bà L ngay tại phòng Công chứng, việc giao tiền không lập giấy tờ, không có người làm chứng Sau khi vay tiền bà L không trả nợ gốc cũng như nợ lãi
Nay bà Nguyễn Thị H ng Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L trả 150 000 000đ ng nợ gốc, nợ lãi là 150 000 000đ ng x 0,75% x 29 tháng (từ ngày 31/3/2016 đến ngày 30/8/2018) là 32 625 000đ ng, tổng cộng 182 625 000đ ng
Theo trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu L thì:
Bà không quen biết bà Ch, nhưng bà nhờ anh Kh làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở Anh Kh nói ngoài các khoản chi phí khác thì phải nộp thuế Nhà nước là 100 000 000đ ng, do bà không có đủ tiền anh Kh giới thiệu bà với bà Ch là người quen của anh Kh. Bà Ch cho bà vay tiền, khi nào cần lấy tiền để làm giấy tờ thì anh Kh sẽ lấy tiền ở bà Ch, hai bên làm sẵn hợp đ ng, do có thỏa thuận như vậy nên bà đã ký hợp đ ng vay bà Ch tại Công chứng, số tiền vay ch là 100 000 000đ ng và 50 000 000đ ng tiền lời gộp lại là 150 000 000đ ng Sau khi ký hợp đ ng bà không nhận tiền, anh Kh không làm được sổ nên anh Kh cũng không lấy tiền Sau này bà Ch có hứa làm sổ cho bà thay anh Kh nhưng bà Ch cũng không làm được
Do vậy bà Ch nói sau khi ký hợp đ ng vay tiền bà đã nhận tiền là không đúng nên không chấp nhận yêu cầu của bà Ch.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng hòa giải không thành.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 04/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố DL đã xử:
1 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H ng Ch về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Thu L.
Bà Nguyễn Thị Thu L không phải trả cho bà Nguyễn Thị H ng Ch 182 625 000đ ng
2 Về án phí: Bà Nguyễn Thị H ng Ch phải chịu 9 131 250đ ng án phí dân sự sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí 3 750 000đ ng bà Ch đã nộp theo biên lai số AA/2016/0004388 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố DL, bà Ch còn phải nộp 5 381 250đ ng
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự
Ngày 12/9/2018, nguyên đơn bà Ch có đơn kháng cáo không đ ng ý với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm để buộc bà L phải trả 150 000 000đ ng và tiền lãi theo quy định
Tại phiên tòa hôm nay, chị V là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm buộc bà L phải trả cho bà Ch số tiền 150 000 000đ ng và tiền lãi theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Lâm Đ ng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý và của Hội đ ng xét xử tại phiên tòa là đúng pháp luật Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đ ng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đ ng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù bị đơn bà Nguyễn Thị Thu L đã được tống đạt giấy triệu tập cũng như quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm nhưng bà L vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do Người kháng cáo bà Ch vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị Lê Thị Yến V là người đại diện theo ủy quyền cho bà Ch có mặt tại phiên tòa
Do vậy, Hội đ ng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Ngày 31/3/2016, giữa bà Ch và bà L có lập hợp đ ng vay tiền. Thời hạn vay 03 tháng, nhưng đến hạn bà L không thanh toán cho bà Ch nên bà Ch khởi kiện yêu cầu bà L trả nợ gốc 150 000 000 đ ng và lãi suất phát sinh Tuy nhiên, bà L không đ ng ý nên các phát sinh tranh chấp
Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố DL là đúng pháp luật
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Ch thì thấy rằng:
Qua chứng cứ có trong h sơ vụ án thể hiện, ngày 31/3/2016 bà Ch và bà L có ký hợp đ ng vay tiền đã được Văn phòng công chứng DL chứng nhận cùng ngày (bút lục số 14-16) Theo hợp đ ng vay tiền trên thì bà Ch cho bà L vay số tiền 150.000 000 đ ng, thời hạn vay là 03 tháng
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ch cũng như chị V là người đại diện theo ủy quyền cho bà Ch khai nhận, sau khi ký kết hợp đ ng bà Ch đã giao tiền cho bà L ngay tại phòng Công chứng, việc giao tiền không lập giấy tờ, không có người làm chứng Sau khi vay tiền bà L không trả nợ gốc cũng như nợ lãi.
Tuy nhiên, bị đơn bà L không thừa nhận việc nhận tiền của bà Ch. Bà L cho rằng bà có ký hợp đ ng vay tại phòng công chứng nhưng thực tế không nhận tiền theo như hợp đ ng.
Hơn nữa, trong hợp đ ng vay tiền ngày 31/3/2016 (bút lục số 14-16) ghi rõ: “Việc giao nhận số tiền cho vay do hai bên tự thỏa thuận thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật” và về phương thức thanh toán thì theo Điều 4 của hợp đ ng vay tiền ghi rõ: “Bên B thanh toán cho bên A số tiền lãi hàng tháng. Bên B thanh toán cho bên A số tiền gốc khi đến hạn trả. Khi giao nhận tiền hai bên có trách nhiệm lập biên bản nhận kèm theo”.
Trong quá trình xét xử tại cấp sơ thẩm bà Ch cũng không cung cấp được chứng cứ giao số tiền 150 000 000 đ ng cho bà Lan
Trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, Chị V là người đại diện theo ủy quyền cho bà Ch có cung cấp chứng cứ phô tô có nội dung: bà L có mượn của bà Ch số tiền 50 000 000 đ ng; “tổng cộng mượn của chị Chuyên 100.000.000đồng”. Tuy nhiên, chứng cứ mượn tiền này là ngày 04/5/2016 trong khi bà Ch khai nhận việc giao nhận tiền 150 000 000 đ ng giao ngay sau khi ký hợp đ ng vay tại phòng công chứng ngày 31/3/2016.
Như vậy, số tiền không trùng khớp nhau về mặt thời gian và việc bà L viết mượn tổng cộng của bà Ch số tiền 100 000 000 đ ng là ngày 04/5/2016 không phải ngày 31/3/2016. Tại phiên tòa hôm nay, chị V là người đại diện theo ủy quyền cho bà Ch cũng không lý giải được số tiền này Do vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ch.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ch và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Ch phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300 000đ ng nhưng được trừ vào số tiền 300 000 đ ng tạm ứng án phí phúc thẩm (do chị V nộp thay) theo biên lai thu tiền số AA/2016/0008554 ngày 04/10/2018 của Chi cục thi hành án dân thành phố DL.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H ng Ch Giữ nguyên bản án sơ thẩm Xử:
1 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H ng Ch về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Thu L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu L phải trả cho bà Nguyễn Thị H ng Ch số tiền gốc là 150 000 000đ ng và tiền lãi 32 625 000đ ng
2 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H ng Ch phải chịu số tiền 9 131 250đ ng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 3 750 000 đ ng bà Ch đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2016/0004388 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố DL, bà Ch còn phải nộp 5 381 250đ ng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị H ng Ch phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300 000đ ng nhưng được trừ vào số tiền 300 000 đ ng tạm ứng án phí phúc thẩm (do Chị V nộp thay) theo biên lai thu tiền số AA/2016/0008554 ngày 04/10/2018 của Chi cục thi hành án dân thành phố DL.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án /
| Nơi nhận: - VKSND t nh Lâm Đ ng; - TAND TP. DL; - CCTHADS TP. DL; - Phòng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Hữu Nhân |