- Tranh chấp gì? án hình sự — "P D V phạm tội TTTPCMT - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Diếu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LAI CHÂU Bản án số: 136/2026/HS-ST Ngày 12-5-2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lực
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Việt Bắc
2. Ông Đỗ Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:138/2026/TLST-HS, ngày 27/3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2026/QĐXXST-HS, ngày 29/4/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phàn Diếu V; Tên gọi khác: Không có, sinh ngày 02/6/1971 tại: xã S, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản L, xã S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Phàn Vần H (đã chết), Mẹ đẻ: Tẩn San Mẩy (đã chết). Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con sáu trong gia đình; Bị cáo có vợ là Phàn San M (đã chết) và có 07 con; con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2025 đến ngày 14/12/2025 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong T - Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn H1 – Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L (có mặt)
- Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Tẩn A S, sinh năm 1978. Trú tại: Tổ dân phố P, xã P , tỉnh Lai Châu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/12/2025, Phàn Diếu V, sinh ngày 02/6/1971, trú tại bản Lả Nhì T1, xã S, tỉnh Lai Châu đang đi trên đường thuộc bản Lả Nhì T thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. Vảng hỏi mua Heroine để sử dụng thì người đàn ông nói 07 ngày sau quay lại. Khoảng 18 giờ ngày 11/12/2025, V đi bộ từ nhà ra ngoài đường gặp người đàn ông tại địa điểm hẹn trên đường thuộc bản Lả Nhì Thàng trước đó. Khi gặp, V đưa cho người đàn ông số tiền 400.000 đồng, người đàn ông lấy 05 gói Heroine (từng gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng, gói chung bên ngoài bằng 02 mảnh nilon màu đen và màu đỏ) bán cho V. V nhận Heroine rồi cất giấu trong lòng bàn tay trái. Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản L, xã S, khi Phàn Diếu V vừa mua được Heroine thì bị Đồn Biên phòng S1, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của V 05 gói Heroine. Người đàn ông bán Heroine cho V lợi dụng đêm tối chạy đến chỗ dựng xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) để gần đó điều khiển bỏ chạy thoát, lực lượng Biên phòng không bắt giữ được. Tại bản Kết luận giám định số 986 ngày 14/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh L: số chất bột, màu trắng thu giữ của Phàn Diếu Vảng có tổng khối lượng 0,27 gam là chất ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 13B/CT-VKSKV3, ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Phàn Diếu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, người nhà của bị cáo Phàn Diểu V1 đã giao nộp cho Tòa án giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã S đề ngày 07/05/2026 (kèm danh sách nhận trợ cấp xã hội, trợ giúp xã hội) thể hiện bị cáo Phàn Diểu V1 hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thuộc đối tượng khuyết tật nặng từ 16 tuổi đến 60 tuổi. Qua thực tế xem xét tại phiên tòa bị cáo V1 đã cụt chân phải từ dưới lên đến gần sát đầu gối.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng và bổ sung thêm về việc áp dụng thêm tình tiết “người phạm tội là người khuyết tật nặng” đối với bị cáo Phàn Diếu V. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phàn Diếu V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phàn Diếu V từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu đen, 05 mảnh nilon màu trắng, 02 phong bì niêm phong đã mở.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý án phí, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày bị cáo là hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương còn nhiều hạn chế. Bị cáo là người khuyết tật nặng, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Phàn Diếu V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo nhưng xin được hưởng mức án 02 năm 06 tháng tù.
Tranh luận lại với bị cáo và người bào chữa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên ý kiến như tại phần luận tội.
Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Phàn Diếu V đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 11/12/2025, tại bản L, xã S, tỉnh Lai Châu, bị cáo Phàn Diếu V đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 05 gói Heroine có tổng khối lượng 0,27 gam, mục đích để sử dụng thì bị Đ Biên phòng Sì Lờ L bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H2 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên toà, bị cáo Phàn Diếu V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người khuyết tật nặng; là hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có nghề nghiệp là làm ruộng, là hộ nghèo, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Tình tiết liên quan đến vụ án:
- Về nguồn gốc ma tuý, bị cáo Phàn Diếu V khai mua của một người không rõ lai lịch (đã bỏ chạy thoát khi bắt quả tang bị cáo V), do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Sau khi bắt quả tang bị cáo Phàn Diếu V, Đồn Biên phòng S1 tiến hành kiểm tra phát hiện ma túy trong nước tiểu của bị cáo V. Tuy nhiên, bị cáo V không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,27 gam Heroine thu giữ của bị cáo Phàn Diếu V, Đ Biên phòng Sì Lở L1 đã trích toàn bộ gửi giám định chất ma túy không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu đen, 05 mảnh nilon màu trắng, 02 phong bì niêm phong đã mở là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Do bị cáo là hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tại phiên toà, bị cáo có đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Xét đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn án phí và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Xét đề nghị của bị cáo xin hưởng mức án 02 năm 06 tháng tù là chưa đủ sức răn đe nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Diếu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phàn Diếu V: 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu đen, 05 mảnh nilon màu trắng, 02 phong bì niêm phong đã mở.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào 14 giờ 30 phút ngày 10/4/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu)
[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND khu vực 3 – Lai Châu; - CA tỉnh Lai Châu; (CQĐT, THAHS, Phân trại tạm giam Phong Thổ); - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lực |