- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị Cẩm L - anh Lê Thanh S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 6 – 2026 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bẩm
2. Bà Nguyễn Thị Thuý An
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 89/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2026, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2026 giữa:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1993 (đề nghị vắng mặt)
Căn cước số xxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: ấp P, xã L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: anh Lê Thanh S, sinh năm 1988 (vắng mặt)
CCCD số xxxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: ấp T, xã L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 09/01/2026, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm L trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh S quen biết, tìm hiểu nhau, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P (nay là xã L), tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2013, quyển số 01/2013 ngày 17/01/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 11/2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm chủ yếu về vấn đề kinh tế gia đình, anh S thường xuyên cờ bạc, gây nợ. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh S nhiều lần đánh chị, cầm dao doạ chém chị. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 11/2025 cho đến nay không hàn gắn. Nay cảm thấy đời sống vợ chồng không còn hoà hợp, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh S.
- Về con chung: có 03 con chung tên Lê Hữu Đ, sinh ngày 31/01/2013, Lê Thị N, sinh ngày 08/8/2019, Lê Minh H, sinh ngày 14/4/2024. Các con hiện đang do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra không có ý kiến nào khác.
- Bị đơn anh Lê Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến, trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 -An Giang:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Hôn nhân của chị L và anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nay chị L yêu cầu ly hôn với anh S. Về con chung, có 03 con chung tên Lê Hữu Đ, sinh ngày 31/01/2013, Lê Thị N, sinh ngày 08/8/2019, Lê Minh H, sinh ngày 14/4/2024. Con chung hiện đang do chị L nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con; nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S và nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: anh Lê Thanh S là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Tây, xã Phú Lâm, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang.
Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh S đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 02 không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: chị Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Thanh S. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của chị L anh S được xác lập năm 2013 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2025 đến nay. Trong quá trình ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm, mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu ly hôn là có cơ sở nên được chấp nhận theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: chị L và anh S có 03 con chung tên Lê Hữu Đ, sinh ngày 31/01/2013, Lê Thị N, sinh ngày 08/8/2019, Lê Minh H, sinh ngày 14/4/2024. Con chung hiện đang do chị L nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con.
Xét thấy, sau khi ly thân đến nay các con do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và các con đều có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ, nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao ba con chung cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi đến thành niên hoặc tự lập được. Do chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên anh S không phải cấp dưỡng cho con. Chị L phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh S đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị L không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh S có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh S không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm L.
1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Cẩm L được ly hôn với anh Lê Thanh S.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Cẩm L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 03 con chung tên Lê Hữu Đ, sinh ngày 31/01/2013, Lê Thị N, sinh ngày 08/8/2019, Lê Minh H, sinh ngày 14/4/2024 đến thành niên hoặc tự lập được. Anh Lê Thanh S không phải cấp dưỡng cho con.
Chị Nguyễn Thị Cẩm L phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh S đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Cẩm L phải chịu án phí là 300.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 302604 ngày 09/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND KV12 - AG; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã Phú Tân, tỉnh AG; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Bích Tuyền |