vanban.org

Bản án 136/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 thanh toán số tiền lãi 641.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị H1; Bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị L số tiền 2.127.416.000 (hai tỷ một trăm hai mươi bảy triệu bốn trăm mười sáu ngàn) đồng, trong đó tiền nợ gốc 1.4… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 thanh toán số tiền lãi 641.
  • Căn cứ chính? Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2026/DS-ST
Ngày: 29/01/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền Lũy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Mai Hương

2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1217/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4789/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 5326/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979

Địa chỉ: số nhà D khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1999

2. Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2002

Địa chỉ liên hệ: số nhà F Đường A khu T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà H có mặt, bà D vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966

Địa chỉ: số nhà G Đường E, Khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2025 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị H:

Bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị H1 có quan hệ quen biết nên năm 2022 bà H1 có đề nghị vay tiền của bà L. Sau khi được bà L đồng ý ngày 09/8/2022 hai bên ký Hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C, với nội dung bà H1 vay của bà L số tiền 1.400.000.000 (một tỷ bốn trăm triệu) đồng, thời hạn vay 06 ngày (từ ngày 09/8/2022 đến ngày 15/8/2022), lãi suất vay do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng, bà L đã giao đủ số tiền 1.400.000.000 đồng cho bà H1 nhưng đến thời hạn thanh toán bà H1 không trả nợ gốc, nợ lãi cho bà L theo thỏa thuận. Bà L đã nhiều lần yêu cầu bà H1 trả nợ nhưng bà H1 chỉ cam kết mà không thực hiện.

Do bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà L yêu cầu bà H1 thanh toán số tiền nợ gốc 1.400.000.000 đồng; Tiền lãi hai bên thỏa thuận 10%/năm nên lãi suất trong hạn tính từ ngày 09/8/2022 đến ngày 15/8/2022 (06 ngày) với mức lãi suất 10%/năm bằng 2.333.000 đồng; Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 16/8/2022 đến ngày 29/01/2026 với mức lãi suất 15%/năm là: 1.400.000.000 đồng x 41 tháng 13 ngày x 15%/năm = 725.083.000 đồng; Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính từ ngày 09/8/2022 tạm tính đến ngày 08/5/2025, với mức lãi suất 10%/năm trên tiền nợ lãi chưa trả: 2.333.000 đồng x 33 tháng = 641.000 đồng.

Tổng cộng số tiền gốc và lãi bà L yêu cầu bà H1 thanh toán là 2.128.057.000 đồng.

Số tiền bà L cho bà H1 vay là tiền riêng của bà L, không liên quan đến chồng là ông Nguyễn Văn S. Bà L cho cá nhân bà H1 vay nên chỉ yêu cầu đối với bà H1.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, đồng thời triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 641.000 đồng, là tiền lãi của nợ lãi chưa thanh toán.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở xác định ngày 09/8/2022 bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 1.400.000.000 đồng. Ngày 11/10/2025 bị đơn viết giấy cam kết trả nợ trong tháng 11/2025 nhưng không thực hiện. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc 1.400.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 2.333.000 đồng, tiền lãi quá hạn 725.083.000 đồng.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện cuả nguyên đơn đối với tiền lãi của nợ lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú tại phường L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh về tình trạng cư trú và thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa ngày 31/12/2025 nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án tiếp tục triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tư cách tham gia tố tụng: Tại thời điểm xác lập các giao dịch, nguyên đơn đang tồn tại quan hệ hôn nhân với ông Nguyễn Văn S nhưng ông S đã có lời khai xác định nguồn tiền cho vay là tài sản riêng của bà L nên không cần thiết phải triệu tập ông S tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ vay 1.400.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 09/8/2022 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ. Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa, xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi trên khoản tiền lãi chưa thanh toán nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

Xét, lời khai của nguyên đơn phù hợp với tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng vay tiền ngày 09/8/2022 và giấy ghi ngày 11/10/2025. Tại tờ giấy ghi ngày 11/10/2025 có nội dung “Tôi xác nhận có nợ bà Nguyễn Thị L số tiền 1.400.000.000 đồng, khoản nợ này có lập hợp đồng công chứng. Tôi cam kết trong tháng 11/2025 tôi sẽ trả xong khoản nợ...”, đủ căn cứ xác định bà H1 đã nhận đủ số tiền 1.400.000.000 đồng.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không giao nộp chứng cứ chứng minh về việc đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền vay. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn 1.400.000.000 đồng tiền nợ gốc.

Về tiền lãi: Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi suất. Hợp đồng vay tiền chỉ ghi lãi suất do hai bên thỏa thuận, không ghi mức lãi suất cụ thể nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi suất trong hạn bằng 10%/năm, tính từ ngày vay 09/8/2022 đến ngày 15/8/2022 bằng 2.333.000 đồng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tương ứng với thời gian chậm trả được tính từ ngày 16/8/2022 đến khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, tạm tính đến ngày 29/01/2026 bằng 725.083.000 đồng (1.400.000.000 đồng x 1,25%/tháng x 41 tháng 13 ngày).

Từ ngày 30/01/2026 bị đơn tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất 1,25%/tháng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 179; điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 thanh toán số tiền lãi 641.000 (sáu trăm bốn mươi mốt ngàn) đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị H1;

Bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị L số tiền 2.127.416.000 (hai tỷ một trăm hai mươi bảy triệu bốn trăm mười sáu ngàn) đồng, trong đó tiền nợ gốc 1.400.000.000 đồng; tiền lãi 727.416.000 đồng.

Về tiền lãi: Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán tính từ ngày 30/01/2026 cho đến khi thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo mức lãi suất 1,25%/tháng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị L được nhận lại 36.504.740 (ba mươi sáu triệu năm trăm lẻ bốn ngàn bảy trăm bốn mươi) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0062188 ngày 20/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 74.548.320 (bảy mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi tám ngàn ba trăm hai mươi) đồng, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ