vanban.org

Bản án 136/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 02 (Hai năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Lộc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 136/2024/HSST
Ngày 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Anh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ

Ông Nguyễn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận

Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân

quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình L - Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1990, tại: TP .; Nơi ĐKHKTT và

cư trú: Tổ E, phường X, quận T, TP .; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình L1 (Sinh năm 1970) và bà Võ Thị L2 (Sinh năm 1972).

Tiền án: Ngày 25/9/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP . xử phạt 07

năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 105/HSST. Bị can chấp hành án xong hình phạt vào ngày 01/10/2022.

Tiền sự:

- Ngày 07/07/2023, bị Công an phường H, quận L xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với mức phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định số 73/QĐ-XPHC.

- Ngày 30/12/2023, bị Chủ tịch UBND phường X, quận T, TP . áp dụng biện

pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường theo Quyết định số 216/QĐ-XPHC thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 30/3/2024.

Nhân thân: Ngày 28/6/2024, bị Công an quận L, TP . xử phạt vi phạm hành

chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị can bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận L, thành phố Đà Nẵng

ngày 23/4/2024. (Có mặt)

- Người chứng kiến: Ông Đoàn Ngọc N – sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ F,

phường H, quận L, TP . (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 07/4/2024 Nguyễn Đình L đến

khu vực đường Đ, TP . (chưa rõ địa chỉ cụ thể) tìm gặp một nam thanh niên tên “Bợm” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, L cất giấu gói ma túy mua được vào bên trong túi áo ngực bên trái rồi bắt xe G đi đến đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng tìm địa điểm để sử dụng. Lúc 00 giờ 05 phút ngày 08/04/2024, khi L đi đến trước số nhà A T, phường H, quận L, TP . thì bị tổ tuần tra Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ trong túi áo ngực phía trước bên trái của L 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong kí hiệu A.

Tại Bản Kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng kĩ

thuật hình sự, Công an thành phố Đ xác định: “Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,1008 gam”. Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Đình L có kết quả dương tính với ma túy.

Tại Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Đình L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ

chất ma túy còn lại sau khi giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình L đã khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 00 giờ 05 phút ngày 08/04/2024, tại trước số nhà A đường T, quận L,

TP ., Nguyễn Đình L có hành vi cất giấu trái phép 0,1008 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra Công an phường H, quận L, TP . phát hiện, thu giữ. Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Đình L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho

xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác do đó cần phải xử nghiêm

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/9/2017, bị cáo bị Tòa án

nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép

chất ma tuý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị

cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị

cáo, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là có cơ sở. Do đó, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.

Đồng thời, áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, HĐXX quyết định phạt

bổ sung bị cáo Nguyễn Đình L số tiền 5.000.000 đồng.

Nguyễn Đình L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày

28/6/2024, Công an quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên “Bợm” bán ma tuý cho Nguyễn Đình L: hiện chưa

xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có cơ sở..

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106

Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản

2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 02 (Hai năm) tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2024.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình L số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ

luật Tố tụng hình sự.

T: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.

(Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo

Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 9 năm 2024)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí

hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm

trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ