- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Lộc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 136/2024/HSST Ngày 16/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Anh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ
Ông Nguyễn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận
Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân
quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình L - Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1990, tại: TP .; Nơi ĐKHKTT và
cư trú: Tổ E, phường X, quận T, TP .; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình L1 (Sinh năm 1970) và bà Võ Thị L2 (Sinh năm 1972).
Tiền án: Ngày 25/9/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP . xử phạt 07
năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 105/HSST. Bị can chấp hành án xong hình phạt vào ngày 01/10/2022.
Tiền sự:
- Ngày 07/07/2023, bị Công an phường H, quận L xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với mức phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định số 73/QĐ-XPHC.
- Ngày 30/12/2023, bị Chủ tịch UBND phường X, quận T, TP . áp dụng biện
pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường theo Quyết định số 216/QĐ-XPHC thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 30/3/2024.
Nhân thân: Ngày 28/6/2024, bị Công an quận L, TP . xử phạt vi phạm hành
chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị can bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận L, thành phố Đà Nẵng
ngày 23/4/2024. (Có mặt)
- Người chứng kiến: Ông Đoàn Ngọc N – sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ F,
phường H, quận L, TP . (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 07/4/2024 Nguyễn Đình L đến
khu vực đường Đ, TP . (chưa rõ địa chỉ cụ thể) tìm gặp một nam thanh niên tên “Bợm” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, L cất giấu gói ma túy mua được vào bên trong túi áo ngực bên trái rồi bắt xe G đi đến đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng tìm địa điểm để sử dụng. Lúc 00 giờ 05 phút ngày 08/04/2024, khi L đi đến trước số nhà A T, phường H, quận L, TP . thì bị tổ tuần tra Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ trong túi áo ngực phía trước bên trái của L 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong kí hiệu A.
Tại Bản Kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng kĩ
thuật hình sự, Công an thành phố Đ xác định: “Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,1008 gam”. Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Đình L có kết quả dương tính với ma túy.
Tại Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Đình L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ
chất ma túy còn lại sau khi giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình L đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:
Vào lúc 00 giờ 05 phút ngày 08/04/2024, tại trước số nhà A đường T, quận L,
TP ., Nguyễn Đình L có hành vi cất giấu trái phép 0,1008 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra Công an phường H, quận L, TP . phát hiện, thu giữ. Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Đình L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho
xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác do đó cần phải xử nghiêm
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/9/2017, bị cáo bị Tòa án
nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép
chất ma tuý.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị
cáo, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là có cơ sở. Do đó, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.
Đồng thời, áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, HĐXX quyết định phạt
bổ sung bị cáo Nguyễn Đình L số tiền 5.000.000 đồng.
Nguyễn Đình L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày
28/6/2024, Công an quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng là có cơ sở.
Đối với đối tượng tên “Bợm” bán ma tuý cho Nguyễn Đình L: hiện chưa
xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có cơ sở..
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản
2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 02 (Hai năm) tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình L số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ
T: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.
(Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo
Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 9 năm 2024)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND. quận Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Chi cục THA. quận Liên Chiểu; - Nhà tạm giữ CAQ.Liên Chiểu; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU -TP ĐÀ NẴNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 8 giờ 35 phút ngày 20 tháng 6 năm 2018 Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Minh T2 Ông Hà Thúc Liêu tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Mai Song H - sinh ngày 24 tháng 6 năm 1987 tại Đà Nẵng. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: sung. Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng quy trình tố tụng nên đảm bảo tính hợp pháp. túy". Điều 51 Bộ luật Hình sự. chấp hành hình phạt tính từ ngày 08.3.2018. 5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự. khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. thẩm. luật Tố tụng hình sự. Tuyên: bì niêm phong số 29/GĐ-MT ngày 12.3.2018 và 01 thẻ sim có số thuê bao 01215.616.949; - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia; ngàn đồng) thu giữ của bị cáo H. Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24.5.2018) quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không. Nghị án kết thúc nghị án lúc 8 giờ 45 phút, ngày 20 tháng 6 năm 2018. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Anh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2018/TLST-HS ngày 10 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC 1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 3. Có căn cứ kết tội bị cáo Mai Song H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 4. Về mức hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Mai Song H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ - Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định trong phong - Trả cho chị Nguyễn Thị P 01 xe môtô hiệu Sirius màu đỏ BKS 43C1-186.42; - Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi (Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) 7. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về Biểu quyết: đồng ý 100% (3/3) Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |