- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 136/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 5 – 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin;
Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà T xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Bích T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng cưới nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/10/2007. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cải vã, không tìm được tiếng nói chung, chung sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà và ông T1 đã ly thân với nhau cho đến nay.
Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông T1 có 02 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 10/02/2006 (đã trưởng thành) và Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/10/2009, hiện con đang sống với ông T1. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung là cháu N1 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung T2 đã trưởng thành, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Bà T xác định bà và ông T1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T xác định bà và ông T1 không có nợ ai.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị Bích T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Ông T1 hiện đang cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
. Nguyên đơn là bà Võ Thị Bích T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
. Nguyên đơn là Võ Thị Bích T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Bích T:
Về hôn nhân: Xét thấy, bà Võ Thị Bích T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 43/2005 đăng ký ngày 30/10/2007 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp, nên xác định hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà T và ông T1 đã phát sinh mâu thuẫn với những nguyên nhân do bà T trình bày.
Đối với ông T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 tại Tòa án, nhưng ông T1 vẫn không có ý kiến, luôn vắng mặt, không thể hiện ý chí mong muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Điều đó chứng tỏ mẫu thuẫn tình cảm giữa bà T và ông T1 là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, việc bà T kiên quyết ly hôn với ông T1 là có cơ sở, nên chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T1 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về nuôi con chung: Theo quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “...Vợ, chồng được quyền thỏa thuận người trực tiếp nuôi con...; Tại thời điểm giải quyết vụ án, bà T xác định cháu Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/10/2009 do ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Trên cơ sở đề nghị của bà T, vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, trong học tập nên khi ly hôn, bà T đồng ý giao cháu N1 cho ông T1 được tiếp tục nuôi dưỡng.
Đối với ông T1, dù đã được thông báo về yêu cầu của bà T đối với con chung nhưng ông T1 không có văn bản phản hồi ý kiến gửi cho Tòa án xem xét. Xét thấy, từ khi bà T và ông T1 xa nhau đến nay, bà T xác định cháu N1 do ông T1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu N1.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao cháu N1 cho ông T1 nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Riêng con chung là Nguyễn Thành N đã trưởng thành, bà T không yêu cầu giải quyết. Bà T không cấp dưỡng nuôi con và ông T1 không có ý kiến phản hồi về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Do ông T1 cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận việc bà T xác định không có tài sản chung, Tòa án không đề cập giải quyết. Nếu sau này, các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Do ông T1 cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận việc bà T xác định không có nợ chung, Tòa án không đề cập giải quyết, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
. Về án phí: Bà Võ Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bích T.
1. Về hôn nhân: Bà Võ Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/10/2009. Bà Võ Thị Bích T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T1 không có yêu cầu. Riêng con chung là Nguyễn Thành N, sinh ngày 10/02/2006 đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về chia tài sản chung: Bà T xác định không có, ông T1 không có ý kiến phản hồi nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà T xác định không có, ông T1 không có ý kiến phản hồi nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bà Võ Thị Bích T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp công quỹ Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006036 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T1 không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - UBND xã Hựu Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Thức |