vanban.org

Bản án 136/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần Minh S 01(một) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HS-ST
Ngày: 22-06-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Hồng Phương

Bà Lê Thị Chí

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 06 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2023/TLST-HS ngày 30/05/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXXST-HS ngày 06/06/2023 đối với bị cáo:

Trần Minh S; Giới tính: Nam, sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Minh Đ và bà Trần Thị D; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ đã ly hôn; Nhân thân: Ngày 30/6/2015, bị Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy Đức Hạnh, tại Bình Phước đến ngày 14/10/2016 thì chấp hành xong; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam ngày 17/02/2023; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên khoảng 14 giờ 00 ngày 17/02/2023, Trần Minh S dùng điện thoại di động hiệu Sam Sung có số sim 2: 0784613002 gọi vào điện thoại số 0902953829 của 01 đối tượng tên T (không rõ lai lịch) hẹn gặp và mua ma tuý của T tại khu vực bờ kè đường Hoàng Sa thuộc Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, S đi một mình bằng xe gắn máy biển số 36P4-7469 đến chỗ hẹn với T rồi gặp T hỏi mua ma tuý tổng hợp (hàng đá) với số tiền 300.000 đồng thì T đồng ý. T nói S đứng đợi. Sau đó, T đi đâu thì S không rõ. Khoảng 15 phút sau, T quay lại đưa cho S 01 gói bằng giấy quấn băng keo đen, bên trong đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý tổng hợp (hàng đá). S trả cho T số tiền 300.000 đồng rồi gỡ bỏ gói giấy và băng keo đen quấn bên ngoài gói ma tuý rồi vứt đi, chỉ giữ lại gói nylon có chứa ma tuý rồi cất giấu vào trong túi áo phía trước ngực trái của S đang mặc, một mình điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 00 ngày 17/02/2023, khi S đang điều khiển xe gắn máy biển số: 36P4-7469 đi một mình trên đường Phạm Văn Bạch (theo hướng về đường Trường Chinh) đến Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra 363 thuộc Công an quận Gò Vấp kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy dừng xe kiểm tra, phát hiện trong túi áo phía trước ngực, bên trái của S đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, S khai là ma tuý tổng hợp (hàng đá) nên Cơ quan Công an tạm giữ, niêm phong gói ma tuý đồng thời bắt giữ S đưa về trụ sở Công an Phường 12, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua thử test ma túy, Trần Minh S có kết quả dương tính với ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh S và hình dấu Công an Phường 12, quận Gò Vấp.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung có số sim 1: 0522510629, số sim 2: 0784613002 bị cáo dùng đề liên lạc mua ma túy.

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số: 36P4-7469, số khung: RLPWCHMHY7B005019, số máy: VZS152FMH340019. Bị can S khai nhận đã mua chiếc xe máy trên cách đây hơn một năm của một người đàn ông lạ mặt, không quen biết (địa điểm mua xe S không nhớ) việc mua bán cũng không làm hợp đồng mua bán gì. Hiện nay bị can S đã làm mất giấy tờ xe, nên không biết chủ xe là ai, ở đâu. Cơ quan điều tra đã đăng báo để truy tìm chủ sở hữu chiếc xe trên, nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến liên hệ nhận xe

Căn cứ Kết luận giám định số: 1602/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,2928 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp Trần Minh S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, truy tìm đối tượng bán ma túy tên T ở khu vực đường Hoàng Sa thuộc Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng S không xác định được địa điểm đã mua ma túy của T. Ngoài ra Cơ quan điều tra cũng đã gửi công văn yêu cầu cung cấp tên tuổi địa chỉ của chủ thuê bao số 0902953829 để làm rõ đối tượng tên T đã bán ma túy cho S, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản trả lời. Bản thân S cùng không biết địa chỉ, nhân thân lai lịch của người đã bán ma túy cho S ở đâu, không xác định được địa điểm đã gặp T để mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra xác minh, nếu xác định được đề nghị xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 139/Ctr-VKS-GV, ngày 25/05/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Trần Minh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Trần Minh S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh S và hình dấu Công an phường 12, quận Gò Vấp đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng 0,2928 gam, loại methamphetamine .

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Samsung, số sim1: 05225100629, sim 2: 0784613002.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số: 36P4-7469, số khung: RLPWCHMHY7B005019, số máy: VZS152FMH340019.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Trần Minh S đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Trần Minh S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.

Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0,2928 gam, loại Methamphetamine. Nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, mặt khác bị cáo có nhân thân xấu, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, chưa có tiền án, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh S và hình dấu Công an phường 12, quận Gò Vấp, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,2928 gam, loại Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, số sim 1: 05225100629, sim 2: 0784613002, bị cáo dùng để liên hệ mua ma túy, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với nước xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số: 36P4-7469, số khung: RLPWCHMHY7B005019, số máy: VZS152FMH340019 bị cáo mua nhưng không làm thủ tục sang tên và xử dụng làm phương tiện mua ma túy, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với người tên T không rõ nhân thân, lai lịch là người bán ma túy cho bị cáo S, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu xác định được sẽ xử lý sau

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Minh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần Minh S 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/02/2023.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh S và hình dấu Công an phường 12, quận Gò Vấp đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng 0,2928 gam, loại methamphetamine .

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Samsung, số sim1: 05225100629, sim 2: 0784613002.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số: 36P4-7469, số khung: RLPWCHMHY7B005019, số máy: VZS152FMH340019.

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 26/PNK ngày 22/02/2023 và ngày 10/05/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ