vanban.org

Bản án 136/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Ng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ng - 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự; điều 584, 591 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Buộc bị cáo Trần Nghĩa bồi thư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Trần Ng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 8 Luật giao thông đường bộ; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HS-ST
Ngày: 24/7/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Nghĩa

Ông Phạm Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2023/TLST-HS ngày 01/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Ng, sinh năm: 1996, tại Đồng Nai

Đăng ký thường trú: ấp Tân Hữu, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1972;

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: 03 tiền án.

- Ngày 28/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù, về tội: “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 63/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/6/2016.

- Ngày 28/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 01 năm 04 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 45/2017/HSST; Ngày 24/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 139/2017/HSST. Tổng hợp hình phạt chung là 02 năm 02 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2020.

- Ngày 29/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 155/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/7/2021.

Tiền sự: 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 15/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đưa vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc theo Quyết định số 17A/2022/QĐ-TA với thời gian 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày 21/6/2022. Đến ngày 06/02/2023, Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số 02/QĐ-CSĐTNMT, thời gian tạm đình chỉ thi hành Quyết định từ 09 giờ 30 phút ngày 06/02/2023.

Nhân thân: Ngày 06/01/2015 bị Công an xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 11/QĐ.XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã đóng tiền phạt vào ngày 10/7/2016.

Bị tạm giữ từ ngày 06/02/2023 và giam cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị L: Nguyễn Văn B - sinh năm 1950 (chồng bà L) (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Mai H - sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: 222/29 Nguyễn Văn Trỗi, tổ 98, khu 7, phường Hiệp Khánh, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2. Nguyễn Thị Ú - sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Hữu, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Trần Đăng Ph - sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Hữu, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

2. Hồ Văn Q - sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố 5, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

3. Lê Thanh T - sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 47, Vườn Dừa, Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 11/11/2021, Trần Ng điều khiển xe mô tô biển số 60S8 - 8252 trong tình trạng không có giấy phép lái xe và đã sử dụng chất ma túy, chở anh Trần Đăng Ph ngồi sau lưu thông trên làn đường xe cơ giới bên phải đường Tỉnh lộ 766 theo hướng Quốc lộ 1 đi huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Khi đến Km 07 + 900m đường Tỉnh lộ 766 thì Nghĩa phát hiện bà Nguyễn Thị L đang đi bộ qua đường ở phía trước (cách khoảng 16 mét) theo hướng từ lề đường bên trái qua phần đường bên phải đường Tỉnh lộ 766, tính theo hướng đi của Ng. Dù khoảng cách gần, nguy hiểm nhưng Ng chỉ giảm tốc độ, không nhường đường cho bà Ly qua đường mà tiếp tục điều khiển xe chạy về phía trước. Khi bà L đi bộ đến khoảng giữa làn đường xe cơ giới bên phải (tức làn đường Ng đang lưu thông) thì xe mô tô biển số 60S8-8252 chạy đến cách khoảng 5 - 7 mét. Do Ng không xử lý các biện pháp cấp bách (không phanh xe gấp để hạn chế tối đa sự va chạm) và khoảng cách lúc này quá gần nên Ng và bà L đều lúng túng trong việc tránh nhau, Ng điều khiển xe tránh sang trái theo hướng đi (tức ngược với hướng bà L đi bộ qua đường) thì bà L bước lùi lại, Ng lại tránh sang phải theo hướng đi thì bà L lại bước về phía trước, làm phần trước xe mô tô biển số 60S8 - 8252 va chạm với bà L, gây tai nạn giao thông.

Hậu quả: Bà Nguyễn Thị L bị thương, được đưa đi cấp cứu, nhưng do thương tích nặng, không cứu chữa được nên đã chết vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/11/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2202/KLGĐ - PC09 ngày 30/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đối với bà Nguyễn Thị L, kết luận:

- Dấu hiệu chính: Mũi - miệng có máu chảy ra, sưng nề - bầm tím mí mắt hai bên và thái dương phải, xây sát da đầu vùng chẩm. Bụng trướng to, bầm tím da toàn bộ hông phải, đùi phải. Nứt xương chẩm dài 4,5cm; Ổ bụng có nhiều dịch đục, có 02 vết rách, niêm mạc nhạt màu, có nhiều bóng khí dưới niêm mạc.

- Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương: Chấn thương sọ não - nứt xương chẩm; chấn thương bụng kín - viêm phúc mạc toàn thể do vỡ - hoại tử ruột non.

* Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lúc 23 giờ ngày 11/11/2021 của Công an huyện Xuân Lộc đối với Trần Ng thể hiện nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo là: 0.00mg/L khí thở.

* Biên bản xét nghiệm chất ma túy lúc 22 giờ 20 phút ngày 11/11/2021 của Trạm y tế xã Xuân Thành đối với Trần Ng thể hiện tại bị cáo dương tính với Heroin và ma túy tổng hợp (ma túy đá).

* Tại bản kết luận giám định tư pháp số: 204/TTĐKXCG ngày 06/10/2022 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Long Khánh, kết luận:

- Tình trạng an toàn kỹ thuật của xe mô tô biển số 60S8-8252 quá trình trước và trong khi xảy ra vụ tai nạn giao thông thì không có cơ sở xác định được.

- Tình trạng kỹ thuật sau tai nạn của xe mô tô biển số 60S8-8252 tại thời điểm kiểm tra:

+ Xe vẫn hoạt động bình thường.

+ Không có gương chiếu hậu; không có hộp bảo vệ nhông sên dĩa; không có yếm chắn gió; mặt nạ trước xe bị nứt bể; nắp trước và ốp sau hộp đèn chiếu sáng bên trái bị nứt bể;

+ Đầu cần đạp số bị cong; thân vỏ xe có nhiều vết trầy xước, nứt bể.

+ Kiểm tra phanh trước và phanh sau vẫn hoạt động bình thường.

+ Hệ thống lái, lốp xe, còi, hệ thống đèn và các hệ thống khác vẫn hoạt động bình thường.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông vào lúc 19 giờ 50 phút, ngày 11/11/2021, thể hiện:

- Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: là đường bộ tại Km 07 + 900m Đường Tỉnh 766 thuộc ấp Tân Hòa, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; là đoạn đường thẳng, trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11m, ở giữa có vạch sơn màu vàng, đứt nét (vạch tim đường phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều nhau), mỗi phần đường rộng 5,5m, gồm làn đường dành cho xe cơ giới rộng 3,6m (giáp tim đường); làn đường dành cho xe thô sơ rộng 1,9m, được ngăn cách bởi vạch sơn trắng, đứt nét (phân làn). Đoạn đường không có vạch kẻ đường cho người đi bộ qua đường. Có đèn công cộng đang chiếu sáng.

- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

+ Chọn hướng chuẩn: Hướng Quốc lộ 1 đi huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

+ Vạch chuẩn: vạch sơn phân làn bên phải Đường tỉnh 766 tính theo hướng chuẩn.

+ Điểm mốc: trụ điện số 31/139 trên lề đất bên trái tính theo hướng chuẩn.

- Mô tả vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết tính theo hướng chuẩn:

+ 01 dấu vết máu, phạm vi (0,2 x 2)m, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 1,4m; nằm cách tâm vết máu về hướng đi huyện Đức Linh 0,1m, phát hiện chiếc dép màu đỏ, dép nữ, tâm dép cách vạch chuẩn 0,4m; nằm cách tâm vết máu về hướng đi huyện Đức Linh 0,7m phát hiện 01 (một) mũ vải màu đen, tâm mũ trên vạch chuẩn; nằm cách tâm vết máu về hướng đi huyện Đức Linh, Bình Thuận 1,3m phát hiện tổ hợp các mảnh thịt heo phạm vi (1,6 x 0,1)m nằm trên lề đất bên phải, tâm tổ hợp thịt cách vạch chuẩn 1,9m; nằm cách tâm vết máu về hướng đi huyện Đức Linh, Bình Thuận 0,7m phát hiện mảnh vỡ mặt nạ xe mô tô biển số 60S8 - 8252, phạm vi (18 x 3)cm, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 0,7m.

+ 01 xe mô tô biển số 60S8 - 8252 ngã sang trái, đầu xe hướng đi huyện Đức Linh, đuôi xe hướng đi Quốc lộ 1, trục bánh trước cách vạch chuẩn 0,2m và cách tâm dấu vết máu 2,8m về hướng đi Quốc lộ 1, trục bánh sau cách vạch chuẩn 0,9m; nằm cách tâm trục bánh sau xe mô tô trên về hướng đi Quốc lộ 1 là 1,1m ghi nhận đầu vết cày của xe mô tô 60S8 - 8252, đầu vết cày cách vạch chuẩn 0,9m, đuôi vết cày tại vị trí xe mô tô 60S8 - 8252 nằm ngã, dấu vết cày liên tục, dài 1,6m; Đầu vết cày trùng với hình chiếu vuông góc của điểm mốc.

* Điểm đụng:

- Điểm va chạm trên phương tiện: Phần phía trước xe mô tô biển số 60S8-8252 va chạm với bà Nguyễn Thị L.

- Điểm va chạm trên đường: Làn đường xe cơ giới thuộc phần đường bên phải Đường tỉnh 766 (tính theo hướng Quốc lộ 1 đi huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận) tại Km 07+900m Đường tỉnh 766 thuộc ấp Tân Hòa, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 60S8-8252, nhãn hiệu: ORIENTAL, màu sơn: Đỏ - đen do chị Mai H đứng tên trên giấy tờ xe. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên do bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.

* Trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Ú (mẹ của bị cáo Trần Nghĩa) đã bồi thường số tiền 12.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Thị L là ông Nguyễn Văn B. Ông B yêu cầu Trần Ng bồi thường thêm số tiền 8.000.000 đồng là chi phí mai táng cho bà L.

- Đối với anh Trần Đăng Ph được Trần Ng chở phía sau, anh không bị thương tích gì, không yêu cầu về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.

* Tại bản cáo trạng cáo trạng số: 123/CT-VKS-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Trần Ng về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Ng về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: tái phạm.

- Về tình tiết giảm nhẹ: tự nguyện bồi thường một phần khắc phục hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về mức hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ng 04 - 05 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Ng tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng.

* Đại diện hợp pháp cho bà L, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, không tham dự phiên tòa nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 11/11/2021, Trần Ng điều khiển xe mô tô biển số 60S8 - 8252 chở anh Trần Đăng Ph ngồi sau lưu thông trên làn đường xe cơ giới bên phải đường Tỉnh lộ 766 theo hướng Quốc lộ 1 đi huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Khi đến Km 07 + 900m thuộc ấp Tân Hòa, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; Ng phát hiện bà Nguyễn Thị L đang đi bộ qua đường ở phía trước theo hướng từ lề đường bên trái qua phần đường bên phải Đường Tỉnh lộ 766, tính theo hướng đi của Ng. Dù khoảng cách gần, nguy hiểm nhưng Ng chỉ giảm tốc độ, không nhường đường cho bà L qua đường, tiếp tục điều khiển xe chạy về phía trước làm phần trước xe mô tô biển số 60S8 - 8252 va chạm với bà L, gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị L bị thương, được đưa đi cấp cứu, nhưng do thương tích nặng, không cứu chữa được nên đã chết vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/11/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Ng thừa nhận tại thời điểm gây ra tai nạn thì Ng điều khiển xe trên 50cc, không có giấy phép lái xe theo quy định và đang trong tình trạng sử dụng chất ma túy (loại Heroin và Methamphetamin). Hành vi của bị cáo Trần Ng đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có trình độ nhận thức nhất định. Tuy bị cáo chưa có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng bị cáo xác định tự tìm hiểu nguyên lý hoạt động của xe để điều khiển được xe và đã tự tìm hiểu quy định của Luật giao thông đường bộ nên bị cáo Ng biết rõ khi tham gia giao thông đường bộ phải nắm rõ hành vi tham gia giao thông nào bị nghiêm cấm và phải chấp hành báo hiệu đường bộ như thế nào. Nhưng vì chủ quan mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo xác định đoạn đường Km 07 + 900m thuộc ấp Tân Hòa, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là đoạn đường thẳng, tuy tối trời nhưng có đèn chiếu sáng, đường có vạch phân chia thành 2 làn đường, mỗi làn đường có vạch phân chia làn đường xe cơ giới và xe thô sơ, không có vạch kẻ ưu tiên cho người đi bộ qua đường. Bị cáo điều khiển xe trong làn đường xe cơ giới, không có giấy phép lái xe theo quy định, đang trong tình trạng sử dụng chất ma túy, bị cáo thấy bà L sang đường thì khoảng cách giữa đôi bên là khoảng 16 mét nhưng bị cáo chỉ giảm tốc độ, không nhường đường cho bà L mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy về phía trước. Khi cách bà L tầm 05 mét thì không áp dụng các biện pháp khẩn cấp (không phanh gấp để hạn chế tối đa sự va chạm) để đảm bảo sự an toàn khi tham gia giao thông là vi phạm khoản 7, 9, 23 điều 8 và khoản 4 điều 11 Luật giao thông đường bộ.

Từ việc bị cáo nhận thức được các hành vi vi phạm của bản thân nhưng vẫn thực hiện dẫn đến gây ra thương tích nặng cho bà Nguyễn Thị L, do không cứu chữa được nên bà L đã chết. Bà L qua đường đảm bảo thực hiện đúng các quy định khi tham gia giao thông đường bộ nên trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Xét bị cáo có 03 tiền án, 01 tiền sự và có nhân thân xấu nên cần áp dụng một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét bị cáo đã vận động gia đình bồi thường một phần chi phí điều trị cho bà L; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử xem đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: lần phạm tội này là tái phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Ông B yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 8.000.000 (Tám triệu) đồng chi phí mai táng cho bà L. Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận.

Về vật chứng: đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.

Xét ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Xuân Lộc về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, khung điều luật áp dụng, nhân thân của bị cáo, mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự là 200.000 đồng và 5% án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường cho gia đình bị hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS.

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Ng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ng - 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự; điều 584, 591 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Buộc bị cáo Trần Nghĩa bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho gia đình bị hại Nguyễn Thị L (do ông Nguyễn Văn B làm đại diện hợp pháp) với số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

- Về án phí: áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST và 400.000 đồng án phí DSST. Tổng cộng bị cáo phải nộp 600.000 đồng án phí.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ