- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị T ly hôn ông Nguyễn Xuân Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T, cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Xuân Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2023 V/v tranh chấp: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Đình Nhân
2. Bà Nguyễn Thị Lan Hƣơng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lƣờng Thị Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phƣơng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 453/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993. Trú tại: Số 1N, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1984. Trú tại: Số 1N, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ liên hệ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/9/2023, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân Q kết hôn vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam vào ngày 21/10/2014, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có thời gian tìm hiểu 03 năm, sau khi cưới vợ chồng cùng chung sống tại thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Q sống vô tâm không có sự quan tâm đối với gia đình, ông Q thường xuyên ăn nhậu về chửi mắng xúc phạm bà nên tình cảm vợ chồng ngày rạn nứt không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được. Hiện nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có khả năng hòa giải đoàn tụ và không thể tiếp tục cùng chung sống nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Xuân Q.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014 hiện đang do ông Q trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao ông Nguyễn Xuân Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Viết D cho đến ngày thành niên và bà không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng và Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 08/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Xuân Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị T kết hôn vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam vào ngày 21/10/2014, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có thời gian tìm hiểu 03 năm. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự thông cảm chia sẻ với nhau trong xây dựng hạnh phúc gia đình, ông vô tâm không có sự quan tâm đối với vợ nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, cuộc sống chung không hòa hợp. Hiện nay tình trạng vợ chồng luôn căng thẳng, mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không có sự quan tâm và trách nhiệm đối với nhau, hai bên đều không có thiện chí hòa giải. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có khả năng hòa giải đoàn tụ và không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên bà Nguyễn Thị T có yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014. Khi ly hôn, ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Viết D cho đến ngày thành niên, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Xuân Q vắng mặt có đơn xin vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt và thông báo kết quả phiên họp cho ông Nguyễn Xuân Q được biết. Do ông Nguyễn Xuân Q vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự như xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, xác định mối quan hệ tranh chấp, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T, cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Xuân Q được ly hôn. Về con chung: giao con chung Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014 cho ông Nguyễn Xuân Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến ngày thành niên; bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xác định đây là vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Nguyễn Xuân Q theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Xuân Q có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227; 228; 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân Q.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Xuân Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình ông bà chung sống đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông bà trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm, bị đơn sống vô tâm không quan tâm đối với gia đình nên cuộc sống chung không hòa hợp, mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không còn sự quan tâm và trách nhiệm đối với nhau. Nguyên đơn có yêu cầu ly hôn và bị đơn đồng ý yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Hội đồng xét xử x t thấy hôn nhân giữa ông bà mâu thuẫn trầm trọng, mục đ ch hôn nhân không đạt được, không có khả năng hòa giải đoàn tụ nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Xuân Q là phù hợp và đúng pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014 nên đều có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì các đương sự thỏa thuận giao ông Nguyễn Xuân Q trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Viết D cho đến ngày thành niên; bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Để đảm bảo cho việc ổn định cuộc sống, phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của con chung cần giao ông Nguyễn Xuân Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014 cho đến ngày thành niên là phù hợp quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Xuân Q không yêu cầu bà Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án ph hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 220, 227, 228, 264, 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T, cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Xuân Q.
2. Về con chung: Giao ông Nguyễn Xuân Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Viết D, sinh ngày 16/9/2014 cho đến ngày thành niên, bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án ph hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án ph đã nộp theo phiếu thu số 0002133 ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bà Nguyễn Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, riêng ông Nguyễn Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đức Trọng; - Chi cục THA DS huyện Đức Trọng; - UBND xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam (Số 58/2014, quyển số 02/2012, ngày đăng ký 21/10/2014); - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hạnh |