- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L.T.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:136/2022/HSST Ngày: 29/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân
1) Ông Đặng Anh Hiếu
2) Ông Phạm Văn Minh
- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Vũ Ngọc Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân quận A, Thành phố H.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận A-Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Giang – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố H đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2022/HSST, ngày 10 tháng 6 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo: Họ và tên: L.T.T sinh năm 1987. HKTT và chỗ ở: Thôn D, xã T, huyện S.S, Thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: L.V.H năm 1958. Con bà: L.T.T sinh năm 1965. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000098 lập ngày 11/01/2022 tại Công an quận A và lý lịch bị can thể hiện bị cáo 01 tiền án và 01 tiền sự.
Tiền sự: Ngày 28/5/2021, Công an huyện S.S, TP H xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng. Chưa hết thời hiệu.
Tiền án: Bản án HSST số 21 ngày 24/3/2005, TAND huyện S.S, TP H xử 08 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trị giá 5.000.000 đồng). Đã nộp án phí HSST 50.000 đồng ngày 28/9/2005. Bị can đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 31/12/2021, tạm giam từ ngày 09/01/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố H.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân nghiện ma tuý dạng đá nên khoảng 19h30’ ngày 31/12/2021, T sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A8 màu trắng gọi đến số điện thoại 0356375526 của một đối tượng tên Th để hỏi mua ma tuý, người này có yêu cầu T chuyển khoản vào số tài khoản 0356375526 mang trên T.V.T của Ngân hàng Techcombank số tiền 500.000 đồng và hẹn đến địa chỉ nhà Th ở Bắc Ninh để lấy ma tuý. Trên đường đi, T vào 01 cửa hàng điện thoại để nhờ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho Th. Khi đến nhà Th, Th đưa cho T 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, T cất túi ma túy vào túi áo khoác bên trái phía trước mình đang mặc và đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Khi đến ngõ 176 Ngọc Lâm, quận A, thành phố H, T lấy trong túi áo khoác đang mặc 01 túi ma tuý đá vừa mua và điện thoại cầm ra tay trái đi vào trong ngõ để tìm người bạn mới quen. Lúc này, T bị cơ quan công an kiểm tra hành chính, do hoảng sợ nên T đã thả 01 túi nilong ma túy và điện thoại xuống đất đang đứng thì bị cơ quan công an phát hiện yêu cầu T nhặt lên. Tại chỗ, T khai nhận 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý dạng đá T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Cơ quan công an đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm rõ.
Tang vật thu giữ của L.T.T:
- 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 ví da màu nâu và số tiền 2.000.000 đồng;
- 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29H5 -7003;
- 01 giấy đăng ký xe mang tên P.V.Q.
Kết luận giám định số 283 ngày 09/01/2022 của Phòng KTHS - Công an thành phổ H xác định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy Methamphetamine, khối lượng 1,009 gam
Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận A đã truy tố bị cáo L.T.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm nhân dân quận A sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt L.T.T từ 24 đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 31 tháng 12 năm 2021.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
Về tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,009 gam Methamphetamine
Tịch thu sung công 01 điện thoại Samsung Galaxy A8 màu trắng đã qua sử dụng vì liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Trả lại bị cáo 01 ví da màu nâu và số tiền 2.000.000 đồng nhưng giữ lại để bảo đảm thi hành án.
Trả lại bị cáo 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29H5 -7003 và 01 giấy đăng ký xe mang tên P.V.Q.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận A, Thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận A, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo L.T.T: Lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21h30’ ngày 31/12/2021, tại ngõ 176 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận A, thành phố H, L.T.T có hành vi tàng trữ trái phép 1,009 gam ma túy Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phường Phúc Lợi phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận A truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mua bán, vận chuyển, tang trữ trái phép chất ma túy. Biết là nhà nước nghiên cấm nhưng bị cáo vẫn cất giữ trái phép 1,009 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Việc bị phát hiện là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước, từ ma túy còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó hành vi vi phạm của bị cáo cần phải nghiêm trị.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Trung có 01 tiền sự vẫn trong thời hiệu và 01 tiền án đã được xóa. Điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã dược giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tôi. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.
.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng tạo môi trường cai nghiện cho bị cáo bởi sự kiểm soát của pháp luật.
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng: 1,009 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo cho tịch thu tiêu hủy.
. Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Th bán ma túy cho L.T.T, cơ quan điều tra tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0356375526 và xác minh chủ tài khoản ngân hàng Techcombank số tài khoản 0356375526, xác định là T.V.T (SN: 1991, trú tại: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh B). Xác minh tại địa phương, kết quả T.V.T không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương và gia đình không biết. Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan đến đối tượng T.V.T để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A8 màu trắng đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy. Cho tịch thu sung công.
Đối với 01 ví da màu nâu và số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của L.T.T, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29H5 - 7003, số khung: 0068091, số máy: 0068091, tài liệu điều tra thể hiện: Xe đăng ký tên P.V.Q (SN: 1975, HKTT: Tổ 20 phường D, quận C, thành phố H), xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. L.T.T mua xe máy trên của anh P.V.Q khoảng cuối năm 2020 sử dụng làm phương tiện đi lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 31/12/2021, T sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy và 1,009 gam ma túy Methamphetamine là vật chứng của vụ án. HĐXX thấy đây là chiếc xe mặc dù bị cáo đi mua ma túy nhưng chiếc xe này bị cáo thường xuyên sử dụng đi lại, phạm tội nhất thời chứ không chỉ có mục đích là chỉ đi mua ma túy. Mặt khác đây là tài sản duy nhất và là phương tiện kiếm sống hàng ngày của của vợ chồng bị cáo do vậy thấy cần trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo L.T.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: L.T.T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 12 năm 2021.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ghi khối lượng: 1,009 gam Methamphetamine (phòng PC 09 thu mẫu 0,024 gam) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng và Ngô Đắc Sinh cán bộ Công an phường Phúc Lợi và đối tượng L.T.T hiện đang lưu tại Kho vật chứng Công an quận A theo Phiếu nhập kho vật chứng và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31 tháng 5 năm 2022.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A8 màu trắng đã qua sử dụng hiện đang lưu tại Chi Cục THA dân sự quận A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 6 năm 2022.
Trả lại cho bị cáo 2.000.000 đồng hiện đang lưu tại Chi Cục THA dân sự quận A theo Giấy nộp vào tài khoản ngày 09/6/2022.
Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29H5 - 7003, số khung: 0068091, số máy: 0068091 và 01 đăng ký xe mang tên P.V.Q. Tất cả hiện đang lưu tại Chi Cục THA dân sự quận A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 6 năm 2022.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKS quận A; - Công an quận A - TAND Thành phố H, - VKSND TP H; - Phòng quản lý hồ sơ nghiệp vụ Công An Thành phố H; - Thi hành án dân sự quận A - Bộ tư pháp - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Nga |