vanban.org

Bản án 136/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y. Xử phạt bị cáo Cà Văn B 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 03/4/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2022/HSST
Ngày 23/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ngọc Phương.

Ông Lường Văn Duôi.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2022/TLST-HS ngày 12/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐXXST-HS ngày 11/8/2022 đối với bị cáo:

Cà Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1973 tại x Chiềng P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư tr : Bản Chiềng P, x Chiềng P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Cà Văn H, sinh năm : 1936 và bà : Cà Thị M, sinh năm : 1940; Có vợ : Cà Thị Ó, sinh năm : 1979 và 02 con lớn 25 tuổi, nhỏ 24 tuổi; Tiền án : Ngày 04/6/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 54 tháng tù ( khấu trừ đi 16 ngày tạm giam, giữ, bị cáo chưa thi hành là 53 tháng 14 ngày tù ) về tội tàng trữ trái phép chất ma t y ( chưa được xóa án t ch). Ngày 25/12/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma t y. Tổng hợp chung cho cả 02 bản án bị cáo phải chấp hành là 11 năm 11 tháng 14 ngày tù ( chưa được xóa án t ch); Tiền sự: Không; Nhân thân : Ngày 11/7/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 02 năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma t y ( đ được xóa án t ch). Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2022 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hồi 17 giờ, ngày 03/4/2022, tổ công tác Công an xã Chiềng P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Chiềng P, x Chiềng P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện b t quả tang Cà Văn B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y. Vật chứng thu giữ gồm: Một túi nilon màu tr ng bên trong có chứa chất bột màu tr ng và 02 viên nén hình trụ màu hồng ( B khai là Heroine và hồng phiến ).

Hồi 21 giờ, ngày 03/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đ tiến hành cân tịnh ma t y thu giữ của Cà Văn B gồm : Gói nilon màu tr ng nghi là Heroine có khối lượng 0,45 gam, tr ch r t toàn bộ ( ký hiệu B1 ); 02 viên nén hình trụ màu hồng nghi là ma t y tổng hợp có khối lượng 0,22 gam ( ký hiệu B2 ).

Tại Kết luận giám định số: 597/KL-PC09 ngày 05/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu B1 là ma t y; loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu B2 là ma t y; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam. Tổng khối lượng chất ma t y Cà Văn B tàng trữ trái phép là: 0,45 gam loại Heroine; 0,22 gam loại Methamphetamine ( Mẫu vật đ sử dụng hết trong quá trình giám định ).

Quá trình điều tra bị cáo Cà Văn B khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 03/4/2022 Cà Văn B đi bộ từ nhà đi lên x Thôm mòn, huyện Thuận Châu để tìm mua ma t y về để sử dụng. Khi đi đến bản Thôm, x Thôm mòn, huyện Thuận Châu thì B gặp hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết một gói ma t y được gói bằng nilon màu tr ng bên trong có Heroine và 02 viên hồng phiến. B mua với giá là 400.000 đồng. Sau khi mua được ma t y thì B cất vào t i quần đằng trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến bản Chiềng P, xã Chiềng P, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an xã Chiềng P, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma t y, quá trình kiểm tra đ thu giữ vật chứng như đ nêu trên. Tổ công tác đ đưa B về trụ sở UBND xã Chiềng P, huyện Thuận Châu lập biên bản b t người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-TC ngày 11/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đ truy tố Cà Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Cà Văn B đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đ truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma t y là đ ng người, đ ng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Cà Văn B từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 03/4/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Một mảnh nilon màu tr ng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Án phí : Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - x hội đặc biệt khó khăn, là hộ cận nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, Cà Văn B thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đ ng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 03/4/2022 Cà Văn B đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,45 gam loại Heroine; 0,22 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,67 gam nhằm mục đ ch để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, b t quả tang tại khu vực bản Chiềng P, xã Chiềng P, huyện Thuận Châu. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho x hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo Cà Văn B mặc dù tàng trữ khối lượng ma t y không lớn, tuy nhiên bị cáo đ phạm tội rất nghiêm trọng, đ tái phạm, chưa được xóa án t ch mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự là tái phạm nguy hiểm và là yếu tố định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với:

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản b t người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,45 gam loại Heroine; 0,22 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,67 gam với mục đ ch để sử dụng của Cà Văn B đ phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma t y quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma t y, gây mất trật tự, an ninh x hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm kh c nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cà Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án trong đó có 02 tiền án chưa được xóa án tích và 01 tiền án đ được xóa án t ch là nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là người nghiện ma t y, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Cà Văn B khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái (không biết họ tên và địa chỉ cư tr ) tại bản Thôm, x Thôm mòn, huyện Thuận Châu vào ngày 03/4/2022. Do Cà Văn B không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư tr của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án : Một phong bì thư có viền màu xanh đỏ bên trong có một mảnh nilon màu tr ng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy vận dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án ph : Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - x hội đặc biệt khó khăn, là hộ cận nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y.

Xử phạt bị cáo Cà Văn B 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 03/4/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy:

Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Cà Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma t y, b t ngày 03/4/2022. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 024411 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị b t và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có : Một mảnh nilon màu tr ng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ