- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Võ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Võ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2022/HS- ST Ngày: 19-11-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
Ông Trịnh Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Nhƣ- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Ái Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở UBND phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2022/TLST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Lƣơng Võ Văn T (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 18 tháng 04 năm 1994 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: tổ 24, phường HTT, quận HC, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở: số 391 MT, phường HX, quận CL, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương H (s) và bà Võ Thị Thúy Ph (s).
- Tiền án: Ngày 13/11/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 94/2011/HSST ngày 29/11/2011 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, buộc chấp hành hình phạt chung là 51 tháng tù; chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2016, nhưng chưa bồi thường thiệt hại dân sự.
- Tiền sự:
+ Ngày 18/01/2022 bị Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC;
+ Ngày 20/4/2022 bị Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 114/QĐ-XPHC.
- Nhân thân: Ngày 29/11/2011 bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” (Phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị H1 - Sinh năm: 1966; địa chỉ: K104/22 Lê Đình Lý, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
2. Bà Võ Thị Thuý Ph - Sinh năm: 1969; địa chỉ: Số 391 MT, phường HX, quận CL, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Đinh Văn H2 - sinh năm 2000; địa chỉ: tổ 17, phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Khánh Huy - sinh năm 2000; địa chỉ: tổ 14, phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 ngày 10/8/2022, có một người thanh niên tên M (không rõ nhân thân lai lịch) liên hệ hỏi mua của Lương Võ Văn T 06 viên ma túy thuốc lắc và nửa hộp năm (2,5 gam) ma túy khay, T đồng ý và hẹn gọi lại sau. Sau đó, T liên hệ mua của một người thanh niên tên Cu (không rõ nhân thân lai lịch) số lượng ma túy nêu trên với giá 400.000 đồng/01 viên thuốc lắc, nửa hộp năm ma túy khay giá 3.500.000 đồng tại gần khu vực Cầu Đỏ, thành phố Đà Nẵng. T liên lạc lại cho M báo giá số ma tuý nêu trên mua tổng cộng là 5.900.000 đồng thì M đồng ý và nói sẽ mua số ma tuý nêu trên với giá 6.400.000 đồng rồi hẹn giao dịch tại K354/07 TCV, Đà Nẵng. Lúc này, T điều khiển xe môtô hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-587.70 đến gần Cầu Đỏ, Đà Nẵng tìm gặp và mua của Cu 06 viên ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy khay được để trong 01 khẩu trang y tế nhưng chưa đưa tiền. T cất khẩu trang có số ma túy nêu trên vào trong hộc chứa đồ phía trước bên trái của xe mô tô trên rồi điều khiển đi một mình đến khu vực tầng hầm để xe trước căn hộ số K354/7 TCV, phường XH, quận TK để chờ bán cho M thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong hộc chứa đồ phía trước bên trái của xe môtô hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-587.70 mà T điều khiển có 01 khẩu trang màu xanh bên trong có: 01 gói ni lông chứa 06 viên nén hình mặt người, màu tím, theo T khai là ma túy thuốc lắc, được niêm phong ký hiệu G1 và 01 gói ni lông kích thước khoảng 4cmx3,5cm chứa tinh thể màu trắng, theo T khai là ma túy khay, được niêm phong ký hiệu G2.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Võ Văn T tại địa chỉ 391 đường MT, phường HX, quận CL, thành phố Đà Nẵng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
* Tại Bản kết luận giám định số 169/KLMT-KTHS ngày 18/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
“- Các viên nén màu tím trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA; khối lượng viên nén mẫu G1: 2,331 gam.
- Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là ma túy loại Ketamine; khối lượng tinh thể mẫu G2: 1,663 gam”. (Bút lục số 33)
Qua thử nước tiểu, Lương Võ Văn T dương tính với chất ma túy; kiểm tra điện thoại cũng không phát hiện nội dung gì liên quan đến vụ việc.
* Tang vật tạm giữ: 01 gói ni lông chứa 06 viên nén hình mặt người, màu tím được niêm phong ký hiệu G1 và 01 gói ni lông kích thước khoảng 4cmx3,5cm chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G2, còn lại sau giám định; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số imei: 359475083709890, gắn sim số 0905.794.353 (của T); số tiền 50.000 đồng (của T): Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.
- Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ, biển số: 43D1-58770: Qua điều tra xác minh, bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu nhưng cho đã bà Võ Thị Thuý Ph mượn làm phương tiện đi lại vào tháng 7/2022. Ngày 10/8/2022, bà Ph cho con trai là Lương Võ Văn T mượn xe môtô trên để đi có việc, không biết Toàn sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 62/QĐ-ĐCSMT ngày 21/9/2022, trả xe mô tô trên cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H1.
Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố: Lương Võ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Võ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Lương Võ Văn T từ 04 năm đến 05 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ mẫu hoàn trả sau giám định theo kết luận giám định số: 169/KLMT-KTHS ngày 18/8/2022 đựng trong phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 khẩu trang y tế màu xanh.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số imei: 359475083709890, gắn sim số 0905.794.393 thu giữ của Lương Võ Văn T.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000 đồng thu giữ của Lương Võ Văn T để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Võ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Võ Thị Thuý Ph không có ý kiến tranh luận
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Võ Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/08/2022 đối với Lương Võ Văn T; kết luận giám định số 169/KLMT-KTHS ngày 18/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Đà Nẵng. Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Vào Lúc 10 giờ 00 phút ngày 10/8/2022, tại tầng hầm để xe trước căn hộ số K354/7 TCV, phường XH, quận TK, Lương Võ Văn T có hành vi cất giấu trái phép 02 chất ma túy loại MDMA có khối lượng 2,331 gam và loại Ketamine có khối lượng 1,663 gam để chờ bán cho người khác thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện bắt quả tang.
Xét bị cáo Lương Võ Văn T có hành vi mua và tàng trữ trái phép 2,331 gam chất ma túy loại MDMA; 1,663 gam chất ma túy loại Ketamine với mục đích bán lại cho người khác để thu lợi bất chính nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Lương Võ Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng bản thân là người nghiện ma túy bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy để thu lợi bất chính phục vụ nhu cầu bản thân.
Nhân thân của bị cáo xấu, ngày 29/11/2011 bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng tại Bản án số 94/2011/HSST. Có 02 tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền cùng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 18/01/2022 bị Công an thành phố Đà Nẵng phạt tiền 1.500.000 đồng tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC; ngày 20/4/2022 bị Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phạt tiền 2.000.000 đồng tại Quyết định số 114/QĐ-XPHC nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 270/2012/HSPT ngày 13/11/2012, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt Lương Võ Văn T 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 94/2011/HSST ngày 29/11/2011 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, buộc chấp hành hình phạt chung là 51 tháng tù. Do bị cáo chưa bồi thường về phần trách nhiệm dân sự cho người bị hại theo quy định nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ mẫu hoàn trả sau giám định theo theo kết luận giám định số: 169/KLMT-KTHS ngày 18/8/2022 đựng trong phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, 01 khẩu trang màu xanh thì cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số imei: 359475083709890, gắn sim số 0905.794.353 thu giữ của Lương Võ Văn T có liên quan đến hành vi phạm tội thì cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Lương Võ Văn T không liên quan đến việc phạm tội thì cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ, biển số: 43D1-58770: Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 62/QĐ-ĐCSMT ngày 21/9/2022 trả xe mô tô trên cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H1 là phù hợp.
Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Võ Văn T, Công an quận Thanh Khê đã xử phạt hành chính là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên Cu (bán ma túy) và Minh (mua ma túy) hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với bà Võ Thị Thuý Ph đã cho bị cáo T mượn xe mô tô nhưng không biết T sử dụng vào việc phạm tội nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Võ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Lƣơng Võ Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10.08.2022.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ mẫu hoàn trả sau giám định theo kết luận giám định số: 169/KLMT-KTHS ngày 18/8/2022 đựng trong phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng;
+ 01 (một) khẩu trang màu xanh.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số imei: 359475083709890, gắn sim số 0905.794.353.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Lương Võ Văn T để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/11/2022, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý).
2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - Viện kiểm sát ND TP Đà Nẵng; - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng; - Viện kiểm sát ND quận Thanh Khê; - Công an quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thuỷ Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |