vanban.org

Bản án 136/2022/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 22/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà nguyễn Thị Thu Ph về việc buộc bà Nguyễn Thị Nh, ông Phạm Văn R và ông Trần Duy C xin lỗi công khai do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn thị Thu Phương và Nguyễn Thị Nhung"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÂN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136 /2022/DS – PT
Ngày: 22/6/2022
V/v “Bồi thường danh dự nhân phẩm”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai

Ông Bùi Thanh Quốc.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 113/2022/TLPT-DS ngày 27 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp bồi thường danh dự, nhân phẩm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144/2022/QĐ - PT ngày 01 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Ph, sinh năm 1964 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ 3, ấp Thới An, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1965 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp Bình Thạnh, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phạm Văn R, sinh năm 1988 (Có mặt).

Địa chỉ: 478, ấp Nhơn Thọ 1A, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

2/ Ông Trần Duy C, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: 109, ấp Thới Hưng, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng: ông Phạm Thế Mạnh, sinh năm 1963 (Có mặt).

Địa chỉ: 79A, tổ 4, ấp Thới An, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thu Ph trình bày: Ngày 12/02/2018, bà Nguyễn Thị Nh là Hiệu trưởng và Bí thư chi bộ Trường tiểu học Giai Xuân 1 mời bà Ph trao đổi việc mất ổ khóa phòng đội, do thầy Phạm Văn R phụ trách, bà Nh yêu cầu bà Ph giải trình. Bà Phtrình bày có lấy ổ khóa và để lại ở giàn amly. Sau khi bà Ph giải trình bà Nh cho rằng bà nói không chính xác và muốn bà nói sự thật, nhìn nhận sai. Bà Nh mở Camera đã được bà Nh, Ban chi ủy trường cắt dồn và khẳng định bà Ph đến chổ làm lấy bỏ vào cặp nên yêu cầu bà Ph nhận lỗi đồng thời trả lại tiền làm chìa khóa mới là 165.000 đồng cho ông R, làm tờ tường trình nhận thiếu sót. Bà Ph đã tố cáo hành vi lên cấp Đảng ủy xã Giai xuân và nhận được thông báo kết luận số 01 TB/UBKT-ĐU ngày 24/7/2018. Do kết quả giải quyết không khách quan nên bà tiếp tục tố cáo lên Huyện ủy huyện Phong Điền và Thành ủy thành phố Cần Thơ nhưng không được trả lời kết quả.

Do đó, bà Ph gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Phong Điền kiện cá nhân bà Nguyễn Thị Nh đã vu khống bà lấy cắp tài sản của Trường tiểu học Giai Xuân 1, cắt dồn camera không đúng quy định để chứng minh bà lấy trộm chìa khóa và trình chiếu camera trước tập thể 35 giáo viên của trường đã dồn ép, buộc bà thừa nhận lấy chìa khóa phòng đội là xúc phạm đến uy tín, danh dự của bà. Nay bà Ph yêu cầu bà Nh bồi thường danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm bằng hình thức xin lỗi công khai.

Ông Phạm Văn R là tổng phụ trách phòng đội có hành vi vu khống bà lấy tài sản của Trường, lấy camera làm chứng cứ tại biên bản giải quyết sự việc mất cắp nhà trường ngày 13/4/2018 và ông Trần Duy C là trưởng ban thanh tra Trường có hành vi vu khống bà lấy tài sản trường tại biên bản trao đổi với cô Ph ngày 12/02/2018 của Trường. Ông R và ông C đã xúc phạm đến uy tín, danh dự của bà nên bà yêu cầu ông R và ông C bồi thường danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm bằng hình thức xin lỗi công khai.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Nh trình bày: Bà Nh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phượng. Vụ việc đã được giải quyết về mặt Đảng và về mặt chính quyền đối với Chi bộ Trường tiểu học Giai Xuân 1 và cá nhân bà. Huyện ủy huyện Phong Điền đã giải quyết và có Quyết định giải quyết số 67-QĐ/UBKTHU ngày 12/8/2019 Quyết định giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Thu Ph đảng viên, giáo viên, sinh hoạt đảng tại chi bộ Trường tiểu học Giai Xuân 1, Đảng bộ xã Giai Xuân và có Thông báo số 82-TB/UBKTHU ngày 05/12/2019 và Đảng bộ xã Giai Xuân đã ra Quyết định số 51-QĐ/ĐU ngày 19/12/2019 của Đảng ủy xã Giai Xuân Quyết định Thi hành kỷ luật bà Nguyễn Thị Nh, Hiệu trưởng Trường tiểu học Giai Xuân 1, Nguyên Bí thư Chi bộ Trường tiểu học Giai Xuân 1, Đảng ủy xã Giai Xuân trong đó có nguyên nhân “chiết xuất và cắt dồn Camera trước hội đồng nhà trường là không đúng quy định, gây nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên, giáo viên nhà trường”. Ngày 01/4/2020, Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền ra Quyết định kỷ luật hình thức khiển trách đối với công chức, đối với cá nhân bà Nh. Hành vi của cá nhân bà không làm ảnh hưởng hay gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm của bà Ph nên không đồng ý bồi thường thiệt hại bằng cách xin lỗi công khai. Việc trình chiếu Camera chỉ để ghi nhận diễn biến, hình ảnh cô Ph lấy ổ khóa và chìa khóa để lên amly. Việc trình chiếu để Hội đồng nhà trường biết và lấy ý kiến về việc thấy hay không thấy hình ảnh bà Ph lấy ổ khóa phòng đội. Sau đó, tổng hợp ý kiến bằng phiếu xác nhận thấy hay không thấy hình ảnh bà Phlấy chìa khóa phòng đội. Việc trình chiếu không khẳng định bà Phcó lấy chìa khóa phòng đội. Bà có lỗi do không biết cách chiếc xuất Camera nên cắt dồn camera không đúng quy trình. Riêng việc trình chiếu thì bà làm theo đề nghị của Trưởng công an xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, Cần Thơ. Đối với bà Ph thì bà không có lỗi và không gây thiệt hại đối với nhân phẩm, danh dự của bà Ph.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn R trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phượng. Qua đơn khởi kiện của bà Ph nói ông dồn ép và buộc bà lấy ổ khóa phòng đội là không có căn cứ là vu khống vì từ khi xảy ra vụ việc cho đến khi có kết luận của cấp trên ông chưa bao giờ khẳng định bà Ph lấy cắp mà chỉ yêu cầu Ban giám hiệu nhà trường điều tra, giải quyết. Ông không có hành vi dồn ép, buộc bà Ph thừa nhận có hành vi lấy ổ khóa phòng đội và không có xúc phạm gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm đối với bà Phượng. Làm việc với bà Ph có tập thể Ban chi ủy Chi bộ nhà trường. Đồng thời, vụ việc đã được giải quyết và Ban chi ủy Trường tiểu học Giai Xuân 1 (trong đó có ông) đã bị kiểm điểm. Ông đã làm kiểm điểm rút kinh nghiệm trước Chi bộ theo kết luận của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Việc cắt dồn và chủ trương trình chiếu Camera trước tập thể giáo viên nhà trường ông không tham gia vì ông là người bị mất ổ khóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy C trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phượng. Ông không có hành vi dồn ép, buộc bà Ph thừa nhận hành vi lấy ổ khóa phòng đội và không gây ảnh hưởng hay thiệt hại gì đến danh dự và nhân phẩm của bà Phượng. Việc cắt dồn và chủ trương trình chiếu Camera trước tập thể giáo viên nhà trường ông không có ý kiến mặc dù ông thuộc Ban chi ủy trường.

Tại bản án sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà nguyễn Thị Thu Ph về việc buộc bà Nguyễn Thị Nh, ông Phạm Văn R và ông Trần Duy C xin lỗi công khai do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 14/3/2022 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph trình bày: Bà Nh đã có hành vi cắt dồn camera trong khi không được phép làm, đồng thời còn dồn ép bà Ph trong nhiều biên bản làm việc, sai phạm của bà Nh cần phải xử lý theo pháp luật nên bà Ph vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Nh trình bày: Bà Nh không dồn ép bà Phượng, việc cắt dồn camera trích xuất khi không có công an của bà là không đúng. Nhưng do lời khai của bà Ph không chính xác nên mở camera để làm rõ việc bà Ph thừa nhận việc lấy ổ khóa để lại trên bàn Amply. Khi xảy ra vụ việc, bà Ph đã có đơn gửi đến Tổ chức Đảng và bà Nh đã bị xử lý kỷ luật về mặt Đảng và về mặt chính quyền, tại cuộc họp kỷ luật bà Nh đã xin lỗi bà Phượng. Nay bà Ph khởi kiện yêu cầu bà Nh phải công khai xin lỗi nữa bà không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn R trình bày: Qua sự việc mất chìa khóa văn phòng đội, ông R có làm đơn tường trình. Tại các cuộc họp của trường thì ông không dồn ép gì bà Ph. Bản thân ông R đã bị kỷ luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Ph.

Ông Trần Duy C trình bày: Các biên bản họp của trường đối với sự việc của cô Ph có đưa Chi ủy xem trong đó không có việc dồn ép cô Ph. Bản thân ông đã bị kỷ luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cô Ph.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn kháng cáo cho rằng hành vị cắt dồn camera và trình chiếu trước tập thể giáo viên trường đã ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của nguyên đơn. Tuy nhiên vụ việc trên nguyên đơn đã nhiều lần có đơn tố cáo, khiếu nại gửi đến Đảng ủy xã Giai Xuân, Ủy ban kiểm tra Đảng xã Giai Xuân, Ủy ban kiểm tra Thành ủy – Thành phố Cần Thơ và Thường trực Thành ủy thành phố Cần Thơ để yêu cầu giải quyết. Tại Quyết định số 51/QĐ/ĐU ngày 19/12/2019 của Đảng ủy xã Giai Xuân - Đảng bộ huyện Phong Điền đã thi hành kỷ luật đối với bà Nguyễn Thị Nh bằng hình thức khiển trách, trong quyết định đã thể hiện nội dung vi phạm “…chiết xuất và cắt dồn camera trước hội đồng nhà trường là không đúng quy định, gây nghi ngờ trong cán bộ đảng, giáo viên nhà trường làm mất đoàn kết nội bộ”. Như vậy, đối với hành vi của bị đơn mà nguyên đơn cho rằng làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của nguyên đơn thì đối với bị đơn đã bị xử lý kỷ luật, xem như vụ việc đã được giải quyết bằng một quyết định đã có hiệu lực.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn R, ông Trần Duy C thì quá trình giải quyết tại sơ thẩm ông R và ông C khẳng định không có hành vi, lời lẽ ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm như nguyên đơn trình bày. Vì vậy, không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ các cơ sở phân tích trên, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu Ph thủ tục thực hiện trong thời hạn luật định, về hình thức phù hợp với quy định.

Về nội dung tranh chấp và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Nhận thấy, vào ngày 09/02/2018 trường Tiểu học Giai Xuân 1 làm tổng vệ sinh, phòng Đội do ông Phạm Văn R quản lý đã mở cửa (chìa khóa còn gắn trên ổ khóa) đến khoảng 11 giờ thì ông R phát hiện mất ổ khóa và chìa khóa. Ngày 10/02/2018, ông R gửi tờ tường trình đến Ban giám hiệu Trường Tiểu học Giai Xuân 1. Tại biên bản giải quyết sự việc vào các ngày 12/02/2018, 17/3/2018 và 13/4/2018, nội dung thể hiện bà Ph thừa nhận việc dịch chuyển ổ khóa và chìa khóa từ cửa phòng đến amly nhưng không có lấy cắp.

Nguyên đơn cho rằng bà Nh đã vu khống bà lấy cắp tài sản của trường Tiểu học Giai Xuân 1 nên cắt dồn camera không đúng quy định, để chứng minh nguyên đơn lấy trộm chìa khóa đã trình chiếu camera trước tập thể 35 giáo viên làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bà Ph. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông R, ông C có lời nói vu khống bà Ph lấy cắp tài sản làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bà nên yêu cầu bà Nh, ông R và ông C xin lỗi công khai. Tại cấp sơ thẩm, bà Nh thừa nhận có chiết xuất và cắt dồn Camera không đúng quy định nhưng không dồn ép, buộc bà Ph thừa nhận lấy chìa khóa phòng đội, việc trình chiếu camera cũng không nhằm mục đích khẳng định nguyên đơn lấy cắp chìa khóa mà để tập thể nhìn nhận và làm sáng tỏ, kết thúc sự việc nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông R và ông C khẳng định không dồn ép, buộc nguyên đơn thừa nhận lấy cắp chìa khóa phòng đội nên không đồng ý theo yêu cầu nguyên đơn.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy: Việc gắn Camera của Trường Tiểu học Giai Xuân 1 là công khai, tập thể nhà trường đều biết mục đích việc lắp đạt camera là để quản lý học sinh, điều hành hoạt động của nhà trường. Qua sự việc như các đương sự trình bày, hành vi trình chiếu camera của Hiệu trưởng trong nội bộ tập thể phải có lỗi gây ra thiệt hại. Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác“. Qua xem xét các nội dung biên bản làm việc và các tài liệu khác trong hồ sơ thì cũng chưa có nội dung nào kết luận bà Ph lấy trộm chìa khóa văn phòng Đội. Người làm chứng ông Phạm Thế Mạnh chứng kiến buổi họp ngày 25/5/2018 xác định khi trình chiếu Camera không khẳng định bà Phlấy trộm chìa khóa. Bản thân bà Ph cũng thừa nhận có dịch chuyển bộ ổ khóa và chìa khóa từ bộ cửa đến amply trong văn phòng Đội khi bà Ph không có trách nhiệm quản lý.

Sau cuộc họp của trường đến ngày 02/6/2018, bà Ph có đơn tố cáo gửi đến Đảng ủy xã Giai Xuân và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã Giai Xuân. Ngày 24/7/2018, Đảng ủy xã Giai Xuân đã ra Thông báo số 01-TB/UBKTĐU về việc giải quyết đơn tố cáo của đảng viên Nguyễn Thị Thu Phượng. Chi bộ trường, đã có báo cáo kiểm điểm tập thể ngày 08/12/2018. Đồng thời, tại thông báo số 82-TB/UBKTHU ngày 05/12/2019 kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban chi ủy Chi bộ trường Tiểu học Giai Xuân 1, Đảng bộ xã Giai Xuân. Không đồng ý với thông báo này, bà Ph gửi đơn yêu cầu, đơn tố cáo đến Huyện ủy huyện Phong Điền, đến Ủy ban kiểm tra Thành ủy, thành phố Cần Thơ và Trường trực Thành ủy thành phố Cần Thơ yêu cầu xử lý vụ việc trên.

Ngày 19/12/2019, Đảng ủy xã Giai Xuân đã có Quyết định thi hành kỷ luật bà Nguyễn Thị Nh là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Giai Xuân 1, nguyên Bí thư Chi bộ trường Tiểu học Giai Xuân 1, Đảng ủy xã Giai Xuân số 51-QĐ/ĐU. Đồng thời vào ngày 01/4/2020, Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền cũng ban hành Quyết định về việc kỷ luật hình thức khiển trách đối với công chức số 1088/QĐ-UBND đối với bà Nguyễn Thị Nh trong đó có nội dung “chiết xuất và cắt dồn Camera trước hội đồng nhà trường là không đúng quy định, gây nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên, giáo viên nhà trường”. Xét thấy, bà Nguyễn Thị Nh và Nguyễn Thị Thu Ph đều là Đảng viên, đều là giáo viên công tác trong ngành giáo dục. Trong sự việc này, bản thân bà Nh cũng đã thừa nhận sai, có lỗi trong vụ việc trên và đã bị thi hành quyết định xử lý về mặt Đảng, về mặt chính quyền. Do bà Nh có lỗi trong quá trình xử lý vụ việc nêu trên không đúng quy định và đã được xử lý kỷ luật nên vụ việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bản thân bà Ph cũng có lỗi nên việc xử lý đối với bà Nh đã thỏa đáng nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu Ph là phù hợp

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Ph không cung cấp thêm chứng cứ mới. Phía bà Nh, ông R, ông C cũng thừa nhận là chưa có có lời nói nào khẳng định việc bà Ph lấy trộm chìa khóa. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Nh, ông R, ông C phải xin lỗi công khai.

Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ph, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử .

Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà nguyễn Thị Thu Ph về việc buộc bà Nguyễn Thị Nh, ông Phạm Văn R và ông Trần Duy C xin lỗi công khai do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ph.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu Ph không phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ