vanban.org

Bản án 136/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lại Trần T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo: Lại Trần T 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29 tháng 9 năm 2021 Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Trần T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lại Trần T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136 /2021/ HSST
Ngày: 16/12/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị T Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu Hương

Bà Nguyễn Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa:

Ông Mai Việt Hùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Trần T; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1989 tỉnh Ninh Bình.

Nơi ĐKNKTT: Thôn 1, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp; Laí xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Lại Văn C sinh năm 1965 và bà Trần Thị V sinh năm 1971; Vợ là Lê Thị Hoàn H có 01con sinh năm 2013; Tiền án: tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/9/2021, chuyển tạm giam ngày 07/10/2021, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. ( Có mặt)

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn L sinh năm 1974; Nơi ở hiện nay : thôn Đ, thị trấn Yên M, huyện Y1, tỉnh H. ( Vắng mặt)

Ngƣời chứng kiến:

Anh Nguyễn Đức V; sinh năm: 1997; ( Vắng mặt)

Anh Phạm Cao T1; sinh năm: 1984; ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lại Trần T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/9/2021, Lại Trần T lái xe đầu kéo biển kiểm soát 14C- 266.43 đến trước cửa cây xăng Bến xe phía Đông thuộc thôn V nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi T xuống xe đi đến gần một xe taxi và gặp một người lái taxi không quen biết, tên là C1 hỏi “anh có lấy được đồ không?”, người lái taxi hiểu T hỏi có lấy được ma túy đá không và trả lời là “có”. Sau đó, T đưa cho người lái taxi 500.000 đồng tiền mua ma túy và người lái taxi lái xe đi. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, người lái taxi quay lại đưa cho T 01 gói thuốc lá Thăng Long bên trong có ma túy đá. Mua được ma túy, T cầm gói thuốc lá bên trong có ma túy đá ở tay trái và đi về xe. Khi T đi đến gần đầu xe đầu kéo thì bị Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Ninh Bình phối hợp với Công an xã Ni, thành phố Ninh Bình đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T thả từ tay trái xuống dưới đất nơi T đứng một gói thuốc lá Thăng long màu vàng, tổ công tác phát hiện yêu cầu T nhặt gói thuốc lá lên giao nộp cho tổ công tác. Kiểm tra bên trong bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5x1,5) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được giấu bên trong lớp túi bóng bọc ngoài của gói thuốc lá. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng rồi đưa Lại Trần T về trụ sở công an xã Ninh Phúc lập biên bản bắt người phạm quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 ô tô loại xe đầu kéo Công te nơ, biển kiểm soát 14C-266.43 có rơ mooc mang biển kiểm soát 14R-012.23.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng và các mảnh viên nén màu vàng thu giữ của Lại Trần T, kết quả: Chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 0,295 gam ký hiệu M gửi giám định xác định chất ma túy và khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 740/KLGĐ-PC09-MT ngày 04/10/2021 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2943 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lại Trần T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lại Trần T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Lại Trần T từ 12 ( mười hai) tháng tù đến 15 ( mười năm) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ từ ngày 29/9/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói thuốc lá Thăng Long màu vàng bọc ngoài bằng túi bóng, toàn bộ đối tượng giám định hoàn trả lại sau khi gửi giám định được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 740/KLGĐ-PC09-MT cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu C.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 28/9/2021, tại khu vực đường Trần Nhân Tông, thuộc thôn Vườn Hoa, xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo Lại Trần T có hành vi cất giấu trái phép 0,2943 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.

Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hiếu đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. nên cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

......................................................

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Để cá thể hóa loại, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, phát sinh những tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ phải phụ thuộc vào ma túy và bị hủy hoại cả thể chất, tinh thần và đồng thời cũng có thể là tác nhân phát sinh những tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và để phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lại Trần T không có.

Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng xét thấy bị cáo là người không có thu nhập và công việc ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về các vấn đề khác và xử lý vật chứng:

Về nguồn gốc gói ma túy: Bị cáo Lại Trần T khai nhận mua của một người đàn ông lái xe taxi không quen biết, tên là C1 tại khu vực cây xăng Bến xe phía Đông thuộc thônV, bị cáo T không biết tên tuổi địa chỉ của người đàn ông này cũng như không nhớ hãng taxi, biển số xe ô tô taxi do vậy không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

Đối với 01 ô tô loại xe đầu kéo Công te nơ, biển kiểm soát 14C-266.43 có rơ mooc mang biển kiểm soát 14R-012.23 thu giữ của bị cáo Lại Trần T, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của Công ty TNHH xuất nhập khẩu thương mại Đ1, địa chỉ, thị trấn Q, huyện H1, tỉnh Q1 không liên quan đến vụ án do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại những tài sản trên cho anh Phạm Văn L, sinh năm 1974, là người được Công ty TNHH xuất nhập khẩu thương mại Đ1 ủy quyền để nhận lại tài sản. Anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói thuốc lá Thăng Long màu vàng bọc ngoài bằng túi bóng, toàn bộ đối tượng giám định hoàn trả lại sau khi gửi giám định được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 740/KLGĐ-PC09-MT cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu C, là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố bị cáo: Lại Trần T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo: Lại Trần T 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29 tháng 9 năm 2021

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật mặt trước có ghi số 740/KLGĐ-PC09-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định.

01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật mặt trước có ghi “ký hiệu C”.

01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2021 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lại Trần T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng).

5. Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ