- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Ngân hàng X - N)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng X về hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Bộ luật Dân sự; Điều 110 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2021/DS-ST Ngày: 22 - 9 - 2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Diễm Huyền.
Ông Thiều Hoàng Mới.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2021, Thông báo về việc dời ngày xét xử sơ thẩm vụ án số: 608/2021/TB-TA ngày 19 tháng 7 năm 2021, Thông báo về việc dời ngày xét xử sơ thẩm vụ án số: 633/2021/TB-TA ngày 02 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số: 239/2021/QĐST-DS ngày 01 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng X. Địa chỉ: thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng X:
- Ông X1, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng X. Địa chỉ: thành phố Hà Nội. (Là người đại diện theo pháp luật, ông X1 vắng mặt)
- Ông X2, Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng X huyện C thuộc chi nhánh Ngân hàng X tỉnh Sóc Trăng (Là người đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-X ngày 19/9/2019 của Tổng Giám đốc Ngân hàng X, ông X2 có mặt)
2. Bị đơn: Bà N. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông P. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3.2. Bà N. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng X do ông X3 là người đại diện hợp pháp trình bày: Thực hiện các chương trình tín dụng cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, Ngân hàng X huyện C đã xem xét và thỏa thuận cho vay với lãi suất ưu đãi… để giải quyết khó khăn và phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương. Vào ngày 19/12/2011, Ngân hàng phê duyệt cho hộ bà N vay số tiền 8.000.000đồng, lãi suất: 0%/tháng, thời hạn cho vay: 36 tháng, kỳ hạn trả nợ: 12 tháng/lần, hạn trả cuối cùng là ngày 19/12/2014 của Chương trình cho vay: Cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo Đồng bằng sông Cửu Long theo QĐ 74, QĐ 29, mục đích sử dụng: Chăn nuôi heo. Đến ngày 19/11/2012, Ngân hàng tiếp tục phê duyệt cho hộ bà N vay số tiền 30.000.000đồng, lãi suất: 0,65%/tháng, thời hạn cho vay: 108 tháng, kỳ hạn trả nợ: 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng là ngày 19/11/2021 của Chương trình cho vay: Cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, mục đích sử dụng: Chi phí học tập cho sinh viên N. Tổng cộng hộ bà N vay vốn của 02 chương trình với tổng số tiền là 38.000.000đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng hộ bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (kể cả vốn gốc và tiền lãi) theo thỏa thuận. Tính đến nay hộ bà N không thực hiện trả nợ theo phân kỳ, đã trả lãi là 9.985.321đồng, tổng cộng số tiền còn nợ là 45.222.265đồng, trong đó vốn gốc là 38.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 14/5/2021 là 7.222.265đồng. Mặc dù phía Ngân hàng đã phối hợp với chính quyền địa phương, Hội đoàn thể vận động gia đình thực hiện nghĩa vụ để thu hồi nợ cho Nhà nước nhưng không có kết quả.
Nay Ngân hàng X yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà N và ông P cùng có trách nhiệm hoàn trả số tiền là 45.222.265đồng (trong đó vốn gốc là 38.000.000đồng, tiền lãi là 7.222.265đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong khoản nợ theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng X yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà N và ông P cùng có trách nhiệm hoàn trả số tiền là 45.640.000đồng (trong đó vốn gốc là 38.000.000đồng, tiền lãi là 7.640.000đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong khoản nợ theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng.
* Bị đơn bà N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông P, bà N: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N, ông P và bà N nhưng bà N, ông P và bà N không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng X vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng X; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà N và ông P trả nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng vay tài sản mà hai bên đã ký kết; TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà N là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn Ngân hàng X là ông X1 vắng mặt nhưng có ông X2 là người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa; bị đơn bà N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông P, bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng X về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà N và ông P trả nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng vay tài sản mà hai bên đã ký kết, thấy rằng: Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng X cung cấp gồm 01 sổ vay vốn, 02 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay được phê duyệt ngày 14/12/2011, ngày 18/11/2012, 02 sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ giải ngân ngày 19/12/2011, ngày 19/11/2012 và 01 giấy xác nhận của Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 661CN/CTSV ngày 11/9/2012 thể hiện: Người vay là bà N (có người thừa kế là ông P) có thỏa thuận vay tiền của Ngân hàng tổng cộng 02 lần; lần thứ nhất bà N được Ngân hàng phê duyệt cho vay số tiền vốn là 8.000.000đồng vào ngày 14/12/2011, mã món vay 6000006200063239, thời hạn vay là 36 tháng, kỳ hạn trả nợ là 12 tháng/lần, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 19/12/2014, theo chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo Đồng bằng sông Cửu Long để thực hiện phương án chăn nuôi heo (theo Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/06/2008 và Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013), lãi suất vay trong hạn là 0%/tháng, lãi suất vay quá hạn là 0% lãi suất cho vay trong hạn...; lần thứ hai bà N được Ngân hàng phê duyệt cho vay số tiền vốn là 40.000.000đồng vào ngày 18/11/2012, mã món vay 6000006200063238, thời hạn vay là 108 tháng, kỳ hạn trả nợ là 06 tháng/lần, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 19/11/2021, theo chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn để thực hiện phương án chi phí học tập (cho sinh viên N), lãi suất vay trong hạn là 0,65%/tháng, lãi suất vay quá hạn là 130% lãi suất cho vay trong hạn...; 02 hợp đồng vay tài sản này được các bên ký kết theo quy định của pháp luật; Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà N nhận đối với số tiền vốn vay là 8.000.000đồng đối với hợp đồng vay thứ nhất và 30.000.000đồng đối với hợp đồng vay thứ hai; tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/9/2021 thì bà N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 45.640.000đồng (trong đó vốn gốc là 38.000.000đồng, tiền lãi là 7.640.000đồng). Việc thỏa thuận vay tiền giữa bà N với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự là hợp đồng, phù hợp với quy định tại các Điều 121, 122, 123 Bộ luật Dân sự năm 2005, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 124, 402, 471 Bộ luật Dân sự năm 2005; hợp đồng đã có hiệu lực theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005; thời hiệu khởi kiện về hợp đồng vẫn còn theo quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005. Do bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc theo thỏa thuận trong 02 hợp đồng vay tài sản nên Ngân hàng yêu cầu buộc bà N trả lại toàn bộ số tiền nợ gốc còn nợ và số tiền lãi phát sinh là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Từ đó, việc Ngân hàng yêu cầu bà N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ vay 45.640.000đồng nêu trên, là có căn cứ để chấp nhận.
Về trách nhiệm trả nợ: Việc bà N vay tiền của Ngân hàng phát sinh trong thời kỳ bà N và ông P là vợ chồng và chung sống với nhau, tiền vay được sử dụng vào mục đích chăn nuôi heo và chi phí học tập cho bà N (con của bà N và ông P) là nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu và vì lợi ích chung của hộ gia đình, ông P biết rõ việc bà N vay tiền của Ngân hàng và cũng có ký tên vào sổ vay vốn với tư cách người thừa kế của bà N. Từ đó, có đủ cơ sở xác định nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng vay tài sản là nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung) của bà N và ông P vừa với tư cách là vợ chồng và vừa với tư cách là các thành viên của hộ gia đình theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các Điều 107, 110, 298 Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, ông P phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà N trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ vay 45.640.000đồng nêu trên.
Kể từ ngày 23/9/2021 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, bà N và ông P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản; trường hợp trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng X thì lãi suất mà bà N và ông P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng X cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng X (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019).
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng X, buộc bà N và ông P phải cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ vay là 45.640.000đồng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Ngân hàng X không phải chịu án phí sơ thẩm; bà N và ông P phải cùng chịu án phí sơ thẩm tương ứng trên số tiền nợ vay phải trả cho Ngân hàng là 45.640.000đồng x 5% = 2.282.000đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm e khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 107, 110, 121, 122, 123, 124, 298, 402, 405, 427, 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng X về hợp đồng vay tài sản.
Buộc bà N và ông P phải cùng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng X số tiền nợ vay tổng cộng là 45.640.000đồng (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng, gồm vốn gốc là 38.000.000đồng và tiền lãi là 7.640.000đồng). Cụ thể như sau:
- Hợp đồng vay tài sản, mã món vay 6000006200063238: Vốn gốc là 30.000.000đồng, tiền lãi là 7.640.000đồng.
- Hợp đồng vay tài sản, mã món vay 6000006200063239: Vốn gốc là 8.000.000đồng, tiền lãi là 0đồng.
Kể từ ngày 23/9/2021 cho đến khi thi hành án xong, bà N và ông P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng vay tài sản. Trường hợp trong các hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng X thì lãi suất mà bà N và ông P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng X cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng X.
2. Về án phí sơ thẩm: Ngân hàng X không phải chịu án phí sơ thẩm. Bà N và ông P phải cùng chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 2.282.000đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Riêng đối với các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự (03); - VKSND huyện Kế Sách (01); - Chi cục THADS huyện Kế Sách (01); - TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - Lưu HSVA, Văn phòng (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Việt |