- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2020/HS-ST Ngày 14/9/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bàn Văn Chanh và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 136/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Văn A, sinh năm 1987 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 0/12; dân tộc: Thái; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam;
́ đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn N (đã chết) và bà Vì Thị C; bị cáo có vợ thứ nhất là Lò Thị T (đã ly hôn), vợ thứ hai là Lò Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xóa án tích); Ngày 16/6/2014, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2020 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 16/6/2020, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản Tòng, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Hoàng Văn A đang ở tại nhà riêng. Qua kiểm tra, Hoàng Văn A lấy 01 gói giấy bạc bên trong đựng 04 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, nghi là Methamphetamine đang cất giấu dưới chiếc đệm ngủ của gia đình giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là 04 viên hồng phiến của A tàng trữ để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma tuý. Căn cứ hành vi vi phạm của Hoàng Văn A, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao Hoàng Văn A cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.
Ngày 17/6/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng 04 viên nén màu hồng thu giữ của Hoàng Văn A được 0,39 gam. Lấy 0,19 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu A.
Tại Kết luận giám định số 1013 ngày 19/6/2020, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,39 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn A khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý. Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2020, A đi bộ từ nhà đến khu vực Suối Giăng thuộc bản Phách, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý mang về sử dụng. Tại khu vực Suối Giăng, A gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 06 viên hồng phiến được gói trong mảnh nilon màu hồng với giá 60.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, A mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 19 giờ ngày 16/6/2020, A lấy 02 viên hồng phiến ra để sử dụng, còn lại 04 viên hồng phiến, A lấy mảnh giấy bạc gói lại rồi cất giấu dưới đệm ngủ. Đến 23 giờ 30 phút ngày 16/6/2020, khi A đang ở nhà thì tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phối hợp với các lực lượng chức năng đến kiểm tra, A đã lấy gói ma tuý đang cất giấu ra giao nộp cho tổ công tác.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn A trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma tuý cho Hoàng Văn A như A khai nhận, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Mộc Châu truy tố bị can Hoàng Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Hoàng Văn A, bắt ngày 16/6/2020” bên trong đựng 02 viên nén màu hồng = 0,20 gam nghi là ma túy, mảnh giấy bạc và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy của Hoàng Văn A, SN: 1987, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
3. Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn A khai nhận toàn bộ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh như đã khai tại cơ quan Điều tra , số ma túy bị tổ công tác
̀ Công an huyện Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 16/6/2020 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết với giá 60.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Châu lập vào hồi 23 giờ 40 phút ngày 16/6/2020; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1013 ngày 19/6/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,39 gam, loại Methamphetamine” nằm trong danh mục II, số thứ tự 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hoàng Văn A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/6/2020 bị cáo đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,39 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Hoàng Văn A không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án: Ngày 13/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 16/6/2014, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Đều đã được xóa án tích)
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Hoàng Văn A, bắt ngày 16/6/2020” bên trong đựng 02 viên nén màu hồng = 0,20 gam nghi là ma túy, mảnh giấy bạc và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy của Hoàng Văn A, SN: 1987, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hoàng Văn A tại khu vực Suối Giăng thuộc bản Phách, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do dó bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn A để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Hoàng Văn A, bắt ngày 16/6/2020” bên trong đựng 02 viên nén màu hồng = 0,20 gam nghi là ma túy, mảnh giấy bạc và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy của Hoàng Văn A, SN: 1987, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Hoàng Văn A được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Long Bình |