vanban.org

Bản án 136/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Sơn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Sơn L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đinh Sơn L cho Uỷ ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Sơn L vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Sơn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2020/HS-ST
Ngày: 29-7-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc.

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2020/HSST ngày 29/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với Bị cáo:

Đinh Sơn L, sinh ngày 24/4/1974, tại: Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Ấp 7, xã An Khương, huyện H, tỉnh B; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch; Việt Nam; Con ông: Đinh Văn D (đã chết) và bà: Phan Thị H, sinh năm: 1952; có vợ: Phạm Thị H, sinh năm: 1975 và hai con, con lớn sinh năm: 1995, nhỏ sinh năm: 2003; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Lê Thị T (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bà T gồm:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1953 (có mặt);

2. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1983 (vắng mặt);

3. Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Hẻm 76 đường Võ Văn B, Ấp 4B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Trần Huy P, sinh năm: 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 6, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 26 tháng 10 năm 2019, Đinh Sơn L điều khiển xe ô tô tải biển số 70C-031.79 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 8 hướng từ C đi Bình Dương. Khi đến địa phận ấp 2, xã B, L đánh lái qua trái, điều khiển xe vượt lên chiếc xe buýt biển số 51B-307.55 đang dừng tại trạm xe buýt. Lúc này L phát hiện có xe đi ngược chiều đang chạy tới nên liền đánh lái qua bên phải thì để xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59Y1-121.05 do chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1983 điều khiển, phía trước chở cháu Nguyễn Hồng Hà A, phía sau chở bà Lê Thị T, sinh năm: 1962 lưu thông bên phải cùng chiều làm xe mô tô bà Nhung ngã xuống đường. Hậu quả: Bà T chết tại hiện trường.

Căn cứ kết luận giám định pháp y tử thi số: 1363/TT.19 ngày 25/11/2019 của Trung tâm pháp y: bà Lê Thị T chết do đa chấn thương (BL 78-81).

Căn cứ kết luận giám định số: 107/C09B ngày 29/11/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh xác định:

- Dấu vết phía trước bên phải xe ô tô biển số 70C-031.79 có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh, ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết bên trái xe mô tô biển số 59Y1-121.05, dấu vết bên trái xe mô tô biển số 59Y1-121.05 có chiều từ sau về trước.

- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 70C-031.79 và xe mô tô biển số 59Y1-121.05 với xe ô tô biển số 51B-307.55 và phương tiện hoặc vật cản khác.

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 70C-031.79 với xe mô tô biển số 59Y1-121.05 chiếu xuống mặt đường nằm trước đầu vết cày số 3 và nằm ở phần đường bên phải trên Tỉnh lộ 8 hướng từ C đi Bình Dương.

- Khi va chạm, ô tô biển số 70C-031.79 lưu thông trên Tỉnh lộ 8 hướng C đi Bình Dương, xe mô tô biển số 59Y1-121.05 lưu thông bên phải cùng chiều với xe ô tô biển số 70C-031.79.

- Khi va chạm, tốc độ xe ô tô biển số 70C-031.79 lớn hơn tốc độ xe mô tô biển số 59Y1-121.05.

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông không có dấu vết phanh nên không xác định được tốc độ của các phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông theo dấu vết cơ học (BL 82).

- Khi xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 70C-031.79, xe mô tô biển số 59Y1-121.05 đang ở trạng thái thẳng đứng (BL 84).

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Đinh Sơn L điều khiển xe ô tô tải biển số 70C-031.79 cho xe vượt trái, không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn đối với xe mô tô biển số 59Y1-121.05 do bà Nguyễn Thị Kim N điều khiển lưu thông cùng chiều bên phải, phía trước chở cháu Nguyễn Hồng Hà A, phía sau xe chở bà Lê Thị T. Va chạm xảy ra làm bà Nhung và cháu Hà A té ngã vào lề, còn bà T tẽ ngã ra đường nhựa, bị bánh xe sau bên phải của chiếc xe ô tô tải cán qua người, làm bà T chết tại chỗ. Hành vi vượt xe và chuyển hướng xe của Đinh Sơn L đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2018, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của bà T.

Vật chứng thu giữ: (BL 12).

- 01 xe ô tô tải biển số 70C-031.79 (đã trả lại cho cho chủ sở hữu là ông Hà Trần Huy P (BL 10, 91).

- 01 xe mô tô biển số 59Y1-121.05 (đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim N) (BL 11, 95).

Về dân sự: Đinh Sơn L hỗ trợ tiền mai táng cho gia đình bà T 200.000.000 đồng, gia đình bị hại đồng ý nhận và làm đơn bãi nại cho ông L (BL 100).

Tại phiên toà, bị cáo Đinh Sơn L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

Tại phiên Tòa, ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông là chồng của bà T sự việc xảy ra ngoài ý muốn của Bị cáo và Bị cáo đã bồi thường cho gia đình 200.000.000đồng và Bị cáo cũng ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L để đi làm lo cho gia đình. Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác hết.

Tại phiên Tòa, ông P trình bày: Bị cáo L lái xe thuê cho ông hơn một năm nay sự việc xảy ra, ông cũng hỗ trợ cho bị cáo L 50.000.000đồng và không yêu cầu gì đối với bị cáo L.

Bản cáo trạng số: 132/CTr-VKS-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Đinh Sơn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Sơn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị phạt bị cáo Đinh Sơn L 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.

* Bị cáo tự bào chữa: Không.

Ý kiến của đại diện bị hại: Mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho Bị cáo.

* Lời nói sau cùng của Bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho Bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để đi làm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh:

Xét thấy lời khai nhận tội của Bị cáo Đinh Sơn L tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của Bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 26/10/2019, bị cáo Đinh Sơn L điều khiển xe ô tô tải biển số: 70C-031.79 cho xe vượt trái không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn đối với xe mô tô biển số: 59Y1-121.05 do chị Nguyễn Thị Kim N điều khiển cùng chiều bên phải, phía trước chở cháu Nguyễn Hồng Hà A, phía sau chở bà Lê Thị T là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi gây tai nạn giao thông của bị cáo đã làm bà Lê Thị T chết tại hiện trường, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, an toàn giao thông đường bộ đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước, cùng toàn xã hội quan tâm, tuyên truyền, đấu tranh giúp giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông hiện đang gia tăng. Hành vi của Bị cáo là đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng, gây ra thiệt hại cho tính mạng của bà T. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm Bị cáo để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, Bị cáo nhất thời phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình đã tích cực tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị bãi nại cho bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo; Bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, cần cho Bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xét thấy, bị cáo Đinh Sơn L có nhân thân tốt; có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, Bị cáo là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết bắt Bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà chỉ cần giao Bị cáo về chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để Bị cáo tự cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo L.

. Về vật chứng:

01 xe ô tô tải biển số 70C-031.79 đã trả lại cho cho chủ sở hữu là ông Hà Trần Huy P , ông P không có yêu cầu nào khác và 01 xe mô tô biển số 59Y1-121.05 đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Kim N, do đó Hội đồng xét xử không xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Ông Đinh Sơn L đã hỗ trợ tiền mai táng cho gia đình bà T 200.000.000 đồng, gia đình bị hại đồng ý nhận và có đơn bãi nại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ông L. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Xét cần buộc Bị cáo phải chịu một khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nguoi có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Sơn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Sơn L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Giao bị cáo Đinh Sơn L cho Uỷ ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Uỷ ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước được giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Đã giải thích về chế định hưởng án treo cho bị cáo Đinh Sơn L.

- Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Đinh Sơn L phải chịu.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Chuyển có quyền kháng cáo. Riêng người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nhung và bà Tâm vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND TP.HCM;

- VKSND huyện Củ Chi;

- Công an huyện Củ Chi;

- Nhà tạm giữ CA huyện Củ Chi

- Chi Cục THADS h.Củ Chi;

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

Phạm Thị Hồng Ngọc

- Lưu: VP, hồ sơ.

Cỡ chữ