vanban.org

Bản án 136/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị Ph được ly hôn anh Nguyễn Hữu H

Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị Ph được ly hôn anh Nguyễn Hữu H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 136 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2020
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hoàng Văn Hào

2. Ông Nguyễn Tất Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: không tham gia

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2020/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020, về việc: "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Mai Thị Ph, Sinh năm: 1983

Nơi cư trú: khối 2, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: anh Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1984

Nơi cư trú: xóm 06, xã Thuận Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn chị Mai Thị Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị kết hôn với anh Nguyễn Hữu H vào ngày 30/7/2012, do hai người tự nguyện tìm hiểu và khi kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận Sơn, huyện Đô Lương. Quá trình chung sống được một thời gian thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân hơn 05 năm nhưng không thể quay lại đoàn tụ được, hai gia đình đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị Ph xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H

Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung

Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nguyễn Hữu H không có mặt tuy nhiên anh H có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày nguyện vọng của anh là nhất trí ly hôn với chị Mai Thị Ph, vợ chồng không có con chung nên anh H không yêu cầu giải quyết về con chung và không yêu cầu giải quyết về phân chia tài sản

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định.

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn chị Mai Thị Ph và anh Nguyễn Hữu H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Sơn, huyện Đô Lương. Do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên nguyên đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.

2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Nguyễn Hữu H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị Linh là phù hợp quy định tại Điều 228 BLTTDS năm 2015.

3. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Mai Thị Phương và anh Nguyễn Hữu H có đăng ký kết hôn, vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, đến nay vợ chồng đã sống ly thân hơn 5 năm nay , hai gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, cho đến hôm nay vợ chồng không thể quay về sống chung với nhau được, nên chị Ph đã làm đơn yêu cầu ly hôn. Mặc dù chị Ph có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nhưng quá trình giải quyết vụ án Toà án đã kiên trì hoà giải để chị Ph quay lại đoàn tụ nhưng chị Ph xét thấy vợ chồng không đoàn tụ lại được, mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, không thể quay trở lại xây dựng hạnh phúc được, tình cảm của chị đối với anh H đã không còn. Trước Tòa hôm nay, chị Ph vẫn khẳng định tình cảm giữa chị đối với anh H đã không còn, không thể đoàn tụ được, mâu thuẫn đã quá lớn và chị xin được Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hữu H

Tại phiên tòa anh Nguyễn Hữu H không có mặt tuy nhiên anh H có đơn xin xét xử vắng mặt nguyện vọng của anh muốn ly hôn với chị Mai Thị Ph

Xét thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy xử cho chị Ph được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung

Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu nên HĐXX không xem xét

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị Ph được ly hôn anh Nguyễn Hữu H

2. Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung

3. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về án phí: Buộc chị Mai Thị Ph phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được tính trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nạp tại biên lai số 0005360 ngày 27/6/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ