- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2019/HSST Ngày: 19/4/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH N
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Lê Thị H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Đ - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
2. Ông Trần Văn T - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Hồ H - Thư ký Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh N.
Đại diện VKSND thành phố V tham gia phiên toà: Ông Đinh Sỹ V - chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2019/HSST ngày 20 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2019 đốivới bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc H. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/08/1994.
Nơi ĐKHKTT: Xóm PL, xã NP, huyện NĐ, tỉnh N.
Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12
Con ông: Phạm Xuân S - Sinh: 1967.
Con bà: Lê Thị T - Sinh: 1968.
Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 06 tháng 01 năm 2019 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 h00 ngày 05 tháng 01 năm 2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Ngọc H dùng điện thoại của mình có số thuê bao 0985.573.906 để gọi vào số thuê bao 0942.337.659 của người đàn ông tên D (H không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể) và hỏi D: “có ma túy kẹo và ketamine không bán cho em 10 (Mười) viên kẹo và 03 (Ba) áo ke”, thì D trả lời: “Có”. D hẹn H ra khu vực đường Đ, gần khách sạn Thượng H thuộc phường HB, thành phố V để lấy ma túy. Đồng thời báo giá cho H 10 (Mười) viên thuốc lắc và 03 (Ba) gói ketamine giá 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Sau đó, H điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 37G1-71.004 lại địa điểm đã hẹn rồi gọi điện thoại cho D. D bảo H đi lại bờ tường ở khu vực đầu đường Đ có một vỏ bao thuốc là ba số có ma túy ở bên trong, còn tiền thì ngày mai chuyển lại cho D. H đi đến bờ tường thì thấy một vỏ bao thuốc lá ba số màu xanh trắng, bên trong có 01 (Một) báo PoLetylen màu trắng, bên trong bao potylen màu trắng có chứa 01 (Một) bao PoLetylen màu trắng bên trong chứa 10 (Mười) viên nén hình tròn và 03 (Ba) bao PoLetylen màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. H cầm toàn bộ số ma túy đó trong tay trái của mình rồi điều khiển xe mô tô đi đến quán Karaoke ở số 48, đường Nguyễn Sỹ S thuộc phường H, thành phố V, tỉnh N để hát, đánh nhạc cho phòng sinh nhật của bạn. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi H dừng xe tại số 48, đường Nguyễn Sỹ S thì bị tổ tuần tra kiểm soát Đại đội Cảnh sát cơ động – phòng Cảnh sát cơ động công an tỉnh N yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của H đang cầm 01 (Một) bao PoLetylen màu trắng bên trong chứa 10 (Mười) viên nén hình tròn và 03 (Ba) bao PoLetylen màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. H khai nhận đó là thuốc lắc và ketamine H mua về để sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại do Công an thành phố V lập ngày 06/01/2019 và Kết luận giám định số 237/KL-PC09(MT) ngày 09/01/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: “Ba mẫu chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1, M2 và M3) thu giữ của Phạm Ngọc H gửi tới giám định đều là chất ma túy (Ketamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Ngọc H có tổng khối lượng là 2,140g (Hai phẩy một trăm bốn mươi gam); Mẫu viên nén hình tròn màu trắng trên bề mặt có in hình ngũ giác (Ký hiệu M4) thu giữ của Phạm Ngọc H gửi tới giám định là chất ma túy (MDMA). 10 (mười) viên nén hình tròn màu trắng bên trên bề mặt có in hình ngũ giác thu giữ của Phạm Ngọc H có tổng khối lượng là 3,580g (Ba phẩy năm trăm tám mươi gam)”.
Cáo trạng số 137/CT – VKSTP ngày 20/03/2019 của VKSND thành phố V truy tố bị cáo Phạm Ngọc H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm i khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt: Phạm Ngọc H 39 - 42 tháng tù. Không áp dụng phạt hình bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình.
- 2,140 gam ma túy (Ketamine); 3,580g ma túy (MDMA) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0985573906. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an thành phố V, theo phiếu nhập kho số 29 ngày 14 tháng 01 năm 2019. Đối với số ma túy là chất cấm cần tịch thu tiêu hủy, đối với chiếc điện thoại di động là công cụ phạm tội nên cần hóa giá xung quỹ nhà nước..
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA-VISION màu đen đỏ biển kiểm soát 37G1-71004 Phạm Ngọc H dùng để đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định pháp luật.
Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Phạm Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, nội dung cáo trạng truy tố, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 05/01/2019 trước quán Karaoke ở số 48, đường Nguyễn Sỹ S thuộc phường H, thành phố V, tỉnh N, Phạm Ngọc H đang có hành vi cất giữ trái phép 01 (Một) bao PoLetylen màu trắng bên trong chứa 10 (Mười) viên nén hình tròn có khối lượng 3,580g (Ba phẩy năm trăm tám mươi gam)” và 03 (Ba) bao PoLetylen màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 2,140g (Hai phẩy một trăm bốn mươi gam) để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên mà bị cáo Phạm Ngọc H thực hiện đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 điều 249 BLHS.
. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma tuý. Trong những năm gần đây tệ nạn buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy đang là vấn nạn của xã hội, nó đang từng ngày từng giờ gieo rắc cái chết trắng cho nhân loại nhất là đối với tầng lớp thanh niên là lực lượng nòng cốt và tương lai của xã hội.
Vấn đề ngăn chặn và phòng ngừa tệ nạn ma túy được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng quan tâm, tuyên truyền đến tận nhà trường, khối xóm dân cư. Bản thân bị cáo là một thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu chí rèn luyện, lao động làm ăn lương thiện mà do thiếu bản lĩnh, ăn chơi đua đòi nên đã sớm sa vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm. Việc cách L bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cách L khỏi những đối tượng buôn bán ma túy và cải tạo bị cáo thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì có thái độ khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến.
1 [4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
. Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra thu giữ 2,140 gam ma túy (Ketamine); 3,580g ma túy (MDMA) của bị cáo là vật cấm lưu hành, cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh đã qua sử dụng xét đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá nộp ngân S nhà nước. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA-VISION màu đen đỏ biển kiểm soát 37G1-71004 Phạm Ngọc H dùng để đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt: Phạm Ngọc H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2019.
- Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 2,140 gam ma túy (Ketamine); 3,580g ma túy (MDMA) . Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh đã qua sử dụng. Số vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V theo phiếu nhập kho số 200 ngày 26 tháng 03 năm 2019.
- Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Ngọc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDThành phố V; - VKSND Tỉnh NA - Chi cục THADSThành phố V; - Công an Thành phố V; - TAND tỉnh N; - Sở tư pháp tỉnh N - Bị cáo; Lưu HS . | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) |