vanban.org

Bản án 136/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố bị cáo Lư T n Q phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.

/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lư T n Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 12/01/2019. / Về vật chứng của vụ án, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯ TẤN Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo Lư T n Q phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2019/HS-ST
Ngày: 09-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý;

2. Ông Võ Hùng Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: B Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2019/TLST-HS ng y 09 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

H v t n: Lư Tấn Q, sinh năm 1981. Tại: B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A30/1, khu 1, phường C, th nh phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ h c v n: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lư Vinh Q và bà Trần Thị Thu H; bị cáo có vợ là Võ Thúy H và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ng y 31/12/2013 bị Ủy ban nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 5881/QĐ-UBND đưa v o cơ sở chữa bệnh 24 (hai mươi bốn) tháng; bị b t ng y 12/01/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Lư T n Q l đối tượng nghiện ma túy từ năm 2013.

Lúc 14 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 01 năm 2019, trong lúc Lư T n Q đang ở nhà tại số A30/1 đường B, tổ 1, khu 1, phường C, thành phố T, tỉnh B thì Q nảy sinh ý định đi qua huyện C, Thành phố H để mua ma túy sử dụng. Để thực hiện ý định đó, Q sử dụng điện thoại số 0528.366.986 g i cho người bán ma túy có tên g i là Cường Đ (Cường đ l người đã bán ma túy cho Q trước đó được 04 lần) đến số điện thoại 0764.696.xxx để hỏi mua số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) ma túy đá v số tiền 500.00 đồng (năm trăm ng n đồng) Heroin thì Cường (Đ) đồng ý. Sau khi nói chuyện với Cường Đ xong, Q sử dụng xe mô tô, biển số 60Y4-7849 đi đến ngã ba Cây Xoài thuộc xã T, huyện C, Thành phố H để mua ma túy. Khi đến nơi, Q đứng chờ khoảng 10 phút thì có một người thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu xe Sirius màu tr ng không rõ biển số đến gặp Q hỏi Q có phải là người điện thoại hỏi mua ma túy hay không? thì Q gật đầu. Lúc này, Q l y số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đưa cho người thanh niên, người thanh niên nhận tiền và l y 02 gói nylon b n trong có chứa ma túy từ trong túi quần ra đưa lại cho Q. Q nhận 02 gói nylon b n trong có chứa ma túy rồi qu n vào trong khẩu trang y tế và để dưới yên xe mô tô, sau đó điều khiển xe mô tô đi theo tuyến đường đò cảng Bà Lụa thuộc phường Phú Th , thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 12/01/2019, khi Q vừa lên đò thuộc phường Phú Th , th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng công an phường Phú Th th y nghi v n n n kiểm tra thì phát hiện b t quả tang Q đang T ng trữ trái phép ch t ma túy. Tang vật thu giữ: 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa ch t tinh thể màu tr ng; 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa ch t màu tr ng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy A7 màu vàng đồng có sim số 0528.366.986; 01 (một) xe mô tô hiệu Max màu xanh biển số 60Y4-7849;

Ngày 12/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số 145/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương để: Giám định th nh phần ch t ma túy trong: 01 phong bì thư được ni m phong có chữ ký của người bị b t Lư T n Q, có chữ ký của cán bộ ni m phong Nguyễn Công K v hình d u tròn đỏ của Công an phường Phú Th , th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, b n trong bì thư có 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, b n trong có chứa ch t tinh thể m u tr ng; 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, b n trong có chứa ch t m u tr ng. Ng y 18/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 118/MT-PC09, cụ thể: Tinh thể m u tr ng trong 01 gói nylon, miệng kéo dính được h n kín (kí hiệu M1) v tinh thể m u tr ng trong 01 gói nylon miệng kéo dính được h n kín (kí hiệu M) trong 01 phong bì thư được ni m phong có chữ ký của người bị b t Lư T n Q, có chữ ký của cán bộ ni m phong Nguyễn Công K v hình d u tròn đỏ của Công an phường Phú Th , th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương l ma túy, tr ng lượng 4,9504 gam (M1) v 0,4264 gam (M2), loại Methamphetamine.

Đối với 01 gói nylon, miệng kéo dính được h nh kín, b n trong chứa tinh thể m u tr ng, tr ng lượng sau giám định 4,3148 gam (M1) v 01 gói nylon miệng kéo dính được h n kín, b n trong chứa ch t bột m u tr ng, tr ng lượng sau giám định 0,3697 gam (M2) đã thu giữ của Lư T n Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A7 m u v ng đồng có sim số 0528.366.986 l phương tiện Lư T n Q dùng thực hiện h nh vi phạm tội n n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với xe mô tô biển số 60Y4-78xx (số khung RRRDCB1RRAD854908; số máy VDTFS1P39FMB854908) đã thu giữ của Lư T n Q, quá trình điều tra Q khai nhận đã mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch v o năm 2016 nhưng không có gi y tờ hợp pháp. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô biển số 60Y4-78xx do ông Nguyễn Văn H sinh năm 1951. Địa chỉ: Số 207 p A, xã L, th nh phố B, Đ đứng t n sở hữu l xe Yamaha m u đen xám (số khung 000301; số máy 402301) hoàn toàn khác với xe mô tô Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã thu giữ của Q. Ngày 29/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 267 gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương để giám định số khung, số máy của xe. Ng y 20/5/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 286-SKSM-PC09 kết luận: số khung, số máy của xe đang bị tạm giữ có số khung, số máy không đổi. Tr n cơ sở kết quả giám định ng y 28/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã gửi công văn số 377 đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương tiến h nh xác minh truy tìm nguồn gốc chủ sở hữu xe mô tô nói tr n. Ng y 29/5/2019 Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương có phiếu trả lời xác minh số 418 trả lời xe mô tô nói trên không tìm th y dữ liệu tra cứu. Căn cứ kết quả trả lời của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương xét th y xe máy nói tr n không thuộc quyền sở hữu của ai v l phương tiện phạm tội, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương chuyển Chi cục thi h nh án Dân sự th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với người nam t n Cường Đ đã bán trái phép ch t ma túy cho Lư T n Q do Q không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể n n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để xử lý.

Cáo trạng số 144/CT-VKS-HS ngày 08/7/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lư T n Q về tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lư T n Q đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lư T n Q mức hình phạt từ 05 đến 06 năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 02 (hai) gói nylon chứa ma túy tổng tr ng lượng sau giám định 4,6845gam l tang vật của vụ án n n đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu ti u hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng biển số 60Y4-7849 (số khung RRRDCB1RRAD854908, số máy VDTFS1P39FMB854908) (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động); 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Samsung màu v ng đồng, số thu bao 0528.366.986 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện h nh vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp v o ngân sách nh nước.

Bị cáo Lư T n Q không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phi n tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bi n bản b t người phạm tội quả tang, bi n bản hỏi cung bị can; người l m chứng, bi n bản ni m phong, kết luận giám định cùng các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ng y 12/01/2019, Lư T n Q đã có h nh vi t ng trữ trái phép ch t ma túy tr ng lượng 4,9504 gam (M1) và 0,4264 gam (M2). Tổng tr ng lượng 5,3768 gam loại Methamphetamine tại phường Phú Th , th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện b t quả tang n n h nh vi m bị cáo thực hiện đã hội đủ yếu tố c u th nh tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh v điều khoản như tr n l hoàn toàn có căn cứ v đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nh nước đối với ch t ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút ch t ma túy đang diễn ra phức tạp trong m i tầng lớp. Tệ nạn n y l mối quan tâm của to n xã hội, một trong những nguy n nhân dẫn đến tệ nạn n y chưa được đẩy lùi chính l có sự tiếp tay của bị cáo. Bị cáo l đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cơ sở chữa bệnh nhưng bị cáo không nhận thức được tác hại của ma túy, tiếp tục phạm tội. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính ch t, mức độ của h nh vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở th nh công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe v phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ v o nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt m đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp n n Hội đồng xét xử ch p nhận

Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 (hai) gói nylon chứa ma túy tổng tr ng lượng sau giám định 4,6845gam l tang vật của vụ án n n cần tịch thu ti u hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, được g n biển số 60Y4-78xx (số khung RRRDCB1RRAD854908, số máy VDTFS1P39FMB854908) (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động); 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Samsung m u v ng đồng có số thu bao 0528.366.986 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện h nh vi phạm tội n n cần tịch thu nộp v o ngân sách nh nước.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án:

Tuy n bố bị cáo Lư T n Q phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.

1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lư T n Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 12/01/2019.

2./ Về vật chứng của vụ án, tuyên:

- Tịch thu ti u hủy 02 (hai) gói nylon chứa ma túy, tổng tr ng lượng sau giám định 4,6845gam.

- Tịch thu nộp v o ngân sách nh nước 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, được g n biển số 60Y4-78xx, số khung RRRDCB1RRAD854908, số máy VDTFS1P39FMB854908 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động); 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Samsung m u v ng đồng, số thu bao 0528.366.986 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 148.19 ngày 09/7/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3./ Về án phí: Buộc bị cáo Lư T n Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ