vanban.org

Bản án 136/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần nội dung ơn kháng cáo của ị cáo Bùi Thị Hà L sửa ản án sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh về phần hình phạt ối v i ị cáo

Tuyên ố ị cáo Bùi Thị Hà L phạm tội “Đánh ạc”. Giao bị cáo Bùi Thị Hà L cho UBND phường B, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Hà Lan phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung ơn kháng cáo của ị cáo Bùi Thị Hà L sửa ản án sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh về phần hình phạt ối v i ị cáo
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136 /2019/HS-PT
Ngày: 17-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu

Ông Bùi Đình Thông

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2019/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 ối v i ị cáo Bùi Thị Hà L do có kháng cáo của ị cáo ối v i ản án hình sự sơ thẩm số: 38/2019/HS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo kháng cáo:

1. Bùi Thị Hà L, Sinh ngày: 20/7/1974 tại Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Trú tại: Tổ dân phố 11, phường B, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Gi i tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao ộng tự do; Trình ộ văn hóa: l p 08/12; Con ông Bùi Xuân Đ và bà Đoàn Thị M; Chồng: Nguyễn Duy T ( ã chết); Con: Có 02 con; l n sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2019 ến ngày 01/02/2019 ược thay ổi iện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

Các Bị cáo không kháng cáo: Lê Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Cao Thị H, Trần Hậu T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:

Ngày 12/01/2019 Lê Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Cao Thị H và Trần Hậu T ánh ạc v i Bùi Thị Hà L dư i hình thức ghi “Lô ề” qua tin nhắn iện thoại v i tổng số tiền ánh ạc là 141.368.800 ồng. Trong ó, Lê Thị N ánh ạc số tiền 76.029.300 ồng. Nguyễn Thị T ánh ạc số tiền 24.103.000 ồng. Nguyễn Thị L ánh ạc số tiền 21.896.500 ồng. Cao Thị H ánh ạc số tiền 10.310.000 ồng. Trần Hậu T ánh ạc v i số tiền 9.030.000 ồng. Dựa theo kết quả mở thưởng xổ số Miền Bắc ể phân ịnh thắng thua tỷ lệ thắng thấp nhất gấp 10 lần, cao nhất gấp 350 lần số tiền ánh.

V i hành vi phạm tội nêu trên, tại ản án Hình sự sơ thẩm số: 38/2019/HS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh quyết ịnh:

Tuyên ố các ị cáo Bùi Thị Hà L, Lê Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Cao Thị H, Trần Hậu T phạm tội “Đánh ạc”.

Căn cứ iểm khoản 2 Điều 321; iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 Điều; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Thị Hà L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng ược trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2019 ến ngày 01/02/2019.

Căn cứ iểm khoản 2 Điều 321; iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Thị N 13 (Mười a) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; iểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

- Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Nguyễn Thị L 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; iểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Cao Thị H 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; iểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Hậu T 05 (Năm) tháng 16 (Mười sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2019.

Căn cứ Điều 299, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho ị cáo Trần Hậu T.

Căn cứ khoản 3 Điều 321; khoản 2,3 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt ổ sung phạt tiền Bùi Thị Hà L 20.000.000 ồng, Lê Thị N 20.000.000 ồng, Nguyễn Thị T 15.000.000 ồng, Nguyễn Thị L 15.000.000 ồng, Cao Thị H 10.000.000 ồng, Trần Hậu T 10.000. 000 ồng.

Giao Lê Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L cho UBND phường B, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Cao Thị H cho UBND phường Đ, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong hạn luật ịnh, ngày 10/7/2019 ị cáo Bùi Thị Hà L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin ược hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, ề nghị Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Bị cáo không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án, ồng ý v i tội danh mà HĐXX sơ thẩm ã tuyên.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án ề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm căn cứ iểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên ản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:

Lời khai nhận tội của ị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp v i các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội ồng xét xử phúc thẩm thấy rằng khi thực hiện hành vi phạm tội ị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 28-6-2019 của TAND Thành Phố Hà Tĩnh xét xử bị cáo Bùi Thị Hà L phạm tội “Đánh ạc” quy ịnh tại iểm khoản 2 Điều 321của Bộ luật hình sự là úng người, úng tội, có căn cứ, úng pháp luật.

Xét tính chất, hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của ị cáo, Hội ồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tệ nạn cờ ạc, mua án số ề ngày càng nhiều, thủ oạn ngày càng tinh vi, phức tạp, ây là một tệ nạn xã hội ị pháp luật nghiêm cấm, làm ảnh hưởng ến tình hình trật tự trị an tại ịa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, ị cáo có ầy ủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội v i lỗi cỗ ý. Do ó, phải chịu chế tài hình sự theo quy ịnh.

Xét kháng cáo của ị cáo: Trong vụ án này ị cáo Bùi Thị Hà L là người tham gia ánh ạc v i số tiền l n, tòa án cấp sơ thẩm ã ánh giá úng tính chất của vụ án, mức ộ và hậu quả do hành vi phạm tội của ị cáo gây ra; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ể làm căn cứ xử phạt ị cáo Bùi Thị Hà L 15 tháng tù là có căn cứ pháp luật. Nhưng xét trư c khi phạm tội ị cáo có nhân thân tốt, lần ầu phạm tội; ược hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo ược cấp sơ thẩm cho hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai áo, tích cực hợp tác v i cơ quan iều tra trong việc phát hiện tội phạm, ố ẻ của ị cáo là thương inh, ược quy ịnh tại iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại phiên tòa phúc thẩm ị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i: Mẹ ẻ của ị cáo ược Nhà nư c tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong, ố chồng là cán ộ lão thành cách mạng, anh trai chồng là liệt sỹ, chồng ị cáo ã chết. Nay ị cáo là lao ộng chính trong gia ình ang nuôi mẹ liệt sỹ và thờ cúng liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 BLHS mà cấp sơ thẩm chưa xem xét. Xét nhân thân ị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và hoàn cảnh gia ình ị cáo thì chưa cần thiết phải cách ly ị cáo ra khỏi ời sống xã hội mà cho ị cáo ược hưởng án treo, cải tạo tại ịa phương cũng ủ nghiêm.

Về án phí: Kháng cáo của ị cáo Bùi Thị Hà L ược chấp nhận nên ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ iểm khoản 1 Điều 355; iểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015

- Chấp nhận một phần nội dung ơn kháng cáo của ị cáo Bùi Thị Hà L sửa ản án sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh về phần hình phạt ối v i ị cáo

Tuyên ố ị cáo Bùi Thị Hà L phạm tội “Đánh ạc”.

Căn cứ iểm khoản 2 Điều 321; iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Thị Hà L 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. thời gian thử thách là 30 tháng tình từ ngày tuyên án phúc thẩm (17/10/2019).

Giao bị cáo Bùi Thị Hà L cho UBND phường B, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi Hành án hình sự hai lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi pham tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án ị cáo Bùi Thị Hà L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

3. Các quyết ịnh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ