- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N, phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 136/2018/HSST Ngày: 24-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lường Thị Minh
2. Ông: Lường Văn Hịa
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 24/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 138/2018/HSST ngày 03/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2018/QĐXXST-HS ngày 11/5/2018 đối với bị cáo:
Họ tên: Lường Văn N; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981; tại: Điện Biên. Nơi ĐKNKTT: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn X (đã chết) và bà Lường Thị N; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/02/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Thanh T; SN: 1991
Trú tại: Thôn Đông Biên 3, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (vắng không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 29/01/2018, trong khi đi xem ruộng của gia đình, Lường Văn N gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Kinh (không biết rõ lai lịch) 01 gói nilon mầu xanh bên trong có 02 gói được gói bằng nilon mầu hồng (01 gói Heroine và 01 gói bên trong có 31 viên Hồng phiến) với giá 1.100.000đ, nhằm để sử dụng và bán lẻ. Số ma túy mua được N mang về nhà cất giấu vào túi áo khoác treo trên tường. Đến 11 giờ cùng ngày N có lấy một ít Heroine ra sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 03/02/2018, khi N đang ở nhà thì có Bùi Thanh T đến hỏi mua Heroine. N đồng ý và nhận 50.000đ T đưa và cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi lấy gói Heroine ở túi áo khoác treo trên tường cấu một ít đưa cho T, số Heroine còn lại N cất giấu vào chỗ cũ. T cầm số Heroine mua được đi ra khu vực cánh đồng thuộc bản Co Chai, xã Thanh An, huyện Điện Biên sử dụng hết. Sau đó T quay lại nhà N chơi. Đến 17 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Điện Biên vào nhà N kiểm tra đã thu giữ trong túi quần bên phải của N 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ, N khai là tiền bán Heroine cho T. Sau khi nghe vận động giải thích N đã tự nguyện lấy gói nilon mầu xanh bên trong có 02 gói nilon mầu hồng (01 gói bên trong có các cục bột mầu trắng nghi Heroine; 01 gói bên trong có 31 viên nén mầu hồng nghi ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 04/02/2018 đã xác định số vật chứng thu giữ của Lường Văn N gồm: chất bột mầu trắng có khối lượng 0,1 gam; 31 viên nén mầu hồng có khối lượng 2,95 gam. Tại bản kết luận giám định số: 278/GĐ - PC54 ngày 20/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận vật chứng thu giữ của Lường Văn N gồm: Mẫu chất bột mầu trắng gửi giám định là Heroine, mẫu viên nén mầu hồng gửi giám định là Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn N một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số 83/QĐ - VKS - HS ngày 03/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251/BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện VKSND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine; 2,95 gam Methamphetamine; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 50.000đ. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến tự bào chữa và cũng không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án , căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 03/02/0018, Lường Văn N bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu tại nơi ở của mình 0,1 gam Heroine và 2,95 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ. Trước khi bị bắt N đã bán cho Bùi Thanh T một ít Heroine với giá 50.000đ. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định; Kết luận giám định; Kết luận điều tra; các bản cung có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Bùi Thanh T cũng như Cáo trạng đã truy tố. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251/BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo cất giấu 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine đều được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 251/BLHS năm 2015. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng chất ma túy bị cáo cất giấu là 3,05 gam (0,1 gam Heroine + 2,95 gam Methamphetamine = 3,05 gam). Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo không thuộc điểm i Khoản 2 Điều 251/BLHS năm 2015 nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 251/BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng 3 nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Mặc dù vậy, HĐXX xét thấy bị cáo cất giấu 02 loại ma túy có khối lượng tương đối nhiều vì vậy để phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, ngoài làm ruộng bị cáo không có thu nhập nào, tài sản không có gì khác nên không có khả năng thi hành, do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Lường Văn N khai mua Heroine của một người đàn ông dân tộc kinh (không biết rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên không có cở sở để điều tra làm rõ vì vậy HĐXX không xem xét.
. Vật chứng của vụ án gồm: 0,1 gam Heroine; 2,95 gam Methamphetamine cần bị tịch thu tiêu hủy; 50.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Lường Văn N 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 03/02/2018
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine đã trích toàn bộ gửi giám định không hoàn mẫu vật; 2,95 gam Methamphetamine đã trích 0,19 gam gửi giám định không hoàn mẫu vật.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 50.000đ.
(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2018).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn N phải chịu 200.000đ án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2018).
| Nơi nhận: - TAND t. Điện Biên; - VKSND h. Điện Biên; VKSND tỉnh ĐB; - CQĐT + Nhà tạm giam, giữ h. Điện Biên; - Phòng HSNV Công an t. Điện Biên - Sở Tư pháp t. Điện Biên +THA H.Sự; - Chi cục THADS h. Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thu Hƣơng |