vanban.org

Bản án 136/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 31/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về mức phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 05/11/2017. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ các mẫu vật hoàn lại sau khi trích giám định được niêm phong; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 580.000đ do V bán cỏ Mỹ cho V mà có; t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang V phạm tội tàng trữ ma túy - phạm tội sản xuất trái phép chất ma túy (điều 248 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2018/HS-ST
Ngày 31 – 7 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

Ông Nguyễn Việt Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Đa – Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 478/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Quang V, sinh ngày 10/7/1998, tại Cà Mau “có mặt”. Nơi cư trú: Đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm 1, phường 4, thành phố C, tỉnh Y; chỗ ở: Tạm trú: Số 449, Trần Văn Thời, khóm 4, phường 6, thành phố C, tỉnh Y; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn H và bà: Quách Anh Đ; chưa có vợ và con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 05/11/2017; tạm giam ngày 14/11/2017 cho đến nay.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Minh Hải, Luật sư Văn phòng luật sư Lê Anh Tuấn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang V nghiện chất ma túy từ năm 2016 cho đến nay, loại chất ma túy sử dụng là cỏ Mỹ, thuốc lắc, chất ma túy dạng bột khay. Thông qua mạng xã hội Facebook, V quen biết đối tượng tên Linh ở Thành phố Hồ Chí Minh có bán chất ma túy nên ngày 01/11/2017, V đặt mua cỏ Mỹ và chất ma túy dạng viên, dạng chất bột với tổng số tiền 10.350.000đ và cung cấp địa chỉ của V cho Linh gửi về. Đến khoảng 14 giờ ngày 04/11/2017, nhân viên Công ty dịch vụ chuyển fax nhanh đến giao cho V nhận gói hàng do Linh gửi rồi thu hộ số tiền 10.350.000đ. V mở gói hàng ra kiểm tra thì thấy có cỏ Mỹ, thuốc lắc, chất ma túy dạng bột và 01 cân tiểu ly. Sau đó, V đem cất giấu tại quầy bán cà phê của V. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Ngô Văn Võ gọi điện thoại vào số máy 0915.283.382 của V hỏi mua 05 bịch cỏ Mỹ thì V đồng ý bán với giá 200.000đ/bịch. Võ đến quán của V đưa số tiền 580.000đ, thiếu lại 420.000đ, V đưa 05 bịch cỏ Mỹ cho Võ nhận thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đối với cỏ Mỹ, thuốc lắc, chất ma túy dạng bột khay bị thu giữ thì V cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Các tang vật thu giữ gồm:

+ 05 bịch nylon có chứa hoa, lá dạng thảo mộc. Trong đó, có 04 bịch nylon màu trắng – đen, bên ngoài có ghi chữ City High và 01 bịch nylon màu xanh có ghi chữ HuLK thu của Ngô Văn Võ khai là cỏ Mỹ. Tất cả đã được niêm phong kín trong phong bì, có chữ ký của V và Võ, ký hiệu M.44/2017;

Thu giữ tại vị trí quầy bán cà phê của V:

+ 14 bịch nylon bên trong có chứa chất bột màu trắng (V khai là ma túy dạng khay), trong đó có 04 bịch lớn và 10 bịch nhỏ, ký hiệu M.45/2017;

+ 05 bịch nylon bên trong có chứa hoa, lá dạng thảo mộc, V khai là cỏ Mỹ, ký hiệu M.46/2017;

+ 02 bịch nylon bên trong có chứa các viên nén màu hồng và màu xanh (nghi là ma túy). Trong đó, 01 bịch chứa 08 viên nén màu hồng và 08 viên nén màu xanh, 01 bịch chứa 09 viên màu xanh và 04 viên màu hồng, ký hiệu M.47/2017;

+ 01 bịch nylon màu xanh có ghi chữ HuLK bên trong có chứa hoa, lá dạng thảo mộc (V khai là cỏ Mỹ), ký hiệu M.48/2017;

+ 01 hộp giấy bên ngoài có ghi chữ Nguyễn V, số điện thoại 0915283382 bên trong có chứa 01 bịch nylon chứa hoa, lá dạng thảo mộc, V khai là cỏ Mỹ, ký hiệu M.49/2017;

+ 01 cây cân tiểu ly màu trắng không rõ nhãn hiệu;

+ Thu giữ trên người của Nguyễn Quang V 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám - Model A1549, có sim số 0915283382; Tiền Việt Nam 2.230.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quang V.

(Tất cả các tang vật thu giữ đều được niêm phong kín có chữ ký của Nguyễn Quang V và Ngô Văn Võ).

+ Ngoài ra, còn thu giữ 01 đầu ghi Camera hiệu RDS tại quán cà phê của Nguyễn Quang V; thu giữ của Ngô Văn Võ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 có sim số 0918952672.

Kết quả thử test phát hiện nhanh chất ma túy lúc 01 giờ 15 phút ngày 05/11/2017, tại Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau đối với Nguyễn Quang V thể hiện: V có sử dụng chất ma túy.

Tại kết luận giám định số: 3761/C54B ngày 10 tháng 11 năm 2017 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Thảo mộc khô đã cắt nhỏ được niêm phong gửi giám định đựng trong gói M44/2017 có trọng lượng: 27,9497 gam, M46/2017 có trọng lượng: 7,4486 gam, M48/2017 có trọng lượng: 2,0387 gam; đều không tìm thấy các chất ma túy và tiền chất theo Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Nghị định 82/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 7 năm 2013 và Nghị định 126/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 12 năm 2015. Mẫu thảo mộc trên có AMB-FUBINACA hay còn gọi là Cần sa tổng hợp.

- Gói ký hiệu M45/2017:

+ Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng là: 19,7195 gam, loại Tramadol.

+ Chất màu trắng ngà mịn đựng trong 12 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng là: 7,6747 gam, loại Ketamine.

+ Chất màu trắng ngà trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng là: 6,5207 gam, loại Ketamine, Heroin.

- Gói ký hiệu M47/2017:

+ Viên nén màu hồng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 4,5304 gam, loại Ketamine.

+ Viên nén màu xanh được niêm phong gửi giám định, có trọng lượng 6,0837 gam, không tìm thấy các chất ma túy và tiền chất theo Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Nghị định 82/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 7 năm 2013 và Nghị định 126/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 12 năm 2015. Mẫu trên có 4-hydroxy MET và 4-hydroxy MiPT.

- Gói ký hiệu M49/2017: Thảo mộc khô đựng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 129,00 gam, là lá, hoa Cần sa.

Hoàn lại mẫu vật sau khi trích giám định có niêm phong.

Tại cáo trạng số: 135/CT-VKS ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Quang V theo cáo trạng số: 135/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2018 và đề nghị:

- Về tội danh: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

- Về tang vật: Tịch thu tiêu huỷ khối lượng các mẫu vật hoàn lại sau khi trích giám định; tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 và sim số 0915.283.382 của V dùng vào việc liên hệ với Linh đặt mua chất ma túy; đối với cân tiểu ly là dụng cụ để V phân ma túy sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; riêng số tiền 2.230.000đ là tài sản cá nhân của V nên trả lại cho V.

Ý kiến của người bào chữa: Xét thấy việc truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo rất đáng thương, cha, mẹ bị cáo không còn sống chung gần 10 năm nay, bị cáo sống chung với cha nên thiếu tình thương yêu, dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ nên nhận thức có phần hạn chế. Vì vậy, kiến nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ đến mức thấp nhất cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Theo đó thể hiện: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Quang V đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là 19,7195 gam, loại Tramadol; 12,2051 gam, loại Ketamine và 6,5207 gam, loại Ketamine, Heroin và 129,00 gam lá, hoa Cần sa nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản về việc thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy, tờ tự khai của bị cáo, các tang vật thu giữ và các chứng cứ khác đã thu thập được phù hợp với kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, kết luận điều tra. Hành vi của bị cáo là tàng trữ nhiều chất ma tuý nhằm mục đích để sử dụng nên hành vi đó cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm 0 khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 và hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì hành vi phạm tội của bị cáo được áp dụng theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 có lợi cho bị cáo, đúng với bản Cáo trạng và đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, đời sống của con người, gián tiếp gây ra các tệ nạn trong xã hội, làm suy thoái nòi giống và có thể dẫn đến các căn bệnh truyền nhiễm khác; gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Cà Mau, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là một thanh niên, có công việc ổn định, lẽ ra bị cáo phải biết kiềm chế bản thân, quyết tâm cai nghiện để cải sửa lỗi lầm của mình, lao động chân chính, làm việc có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không những biết cải sửa, rèn luyện bản thân mà lao vào con đường phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng nên có mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm cảnh báo, tuyên truyền với những ai không biết hoặc cố ý không biết tác hại của ma tuý, xâm hại đến sức khoẻ con người, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, nhằm để phòng ngừa hậu quả có thể xảy ra.

Song, xét nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bào chữa cho bị cáo cho rằng hoàn cảnh của bị cáo rất đặc biệt, cha, mẹ bị cáo không còn sống chung gần 10 năm nay, bị cáo sống chung với cha nên thiếu tình thương yêu, dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ nên ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách sống của bị cáo, nhận thức có phần hạn chế. Vì vậy, kiến nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ đến mức thấp nhất cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, làm người có ích cho xã hội. Đồng thời bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo đến mức khởi điểm của khung hình phạt là có cơ sở.

Xét thấy các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa được thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Về vật chứng: Xét thấy số ma tuý là Tramadol; Ketamine Heroin và Cần sa sau khi trích giám định, hoàn lại mẫu vật được niêm phong là vật phạm pháp bị nghiêm cấm nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp; đối với loại thảo mộc sau khi trích giám định hoàn lại không phải là chất ma tuý trong Danh mục của Chính phủ quy định, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 580.000đ do V bán cỏ Mỹ cho Võ mà có, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo là chưa phù hợp. Bởi lẽ, tại phiên tòa, bị cáo xác định cỏ Mỹ cũng là chất gây nghiện, mặc dù trong Danh mục các chất ma túy Chính phủ chưa quy định, nhưng bị cáo hoạt động kinh doanh quán cà phê, việc mua bán cỏ Mỹ phải có điều kiện cho phép của pháp luật nên việc bị cáo bán cỏ Mỹ cho đối tượng nghiện là không đảm bảo điều kiện kinh doanh nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền này là có căn cứ; đối với điện thoại di động hiệu Iphone 6 và sim số 0915.283.382 của V dùng vào việc liên hệ với Linh đặt mua chất ma túy nên tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước; đối với cân tiểu ly là dụng cụ để V phân ma túy sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; riêng số tiền 1.650.000đ của V do hoạt động kinh doanh mà có nên trả lại cho V là phù hợp. Các vật và tài sản thu giữ còn lại là của cá nhân bị cáo và Ngô Văn Võ, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, trong quá trình điều tra đã trả lại cho gia đình bị cáo và Võ nên không đặt ra xử lý là có cơ sở.

Đối với hành vi bán cỏ Mỹ không phải là chất ma túy cho Ngô Văn Võ không cấu thành tội phạm nên không đặt ra xử lý là đối với V và Võ là phù hợp. Đối với người thanh niên tên Linh bán ma tuý cho bị cáo, hiện không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tách ra giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 7; điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về mức phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 05/11/2017.

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ các mẫu vật hoàn lại sau khi trích giám định được niêm phong; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 580.000đ do V bán cỏ Mỹ cho V mà có; tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 và sim số 0915.283.382 của V dùng vào việc liên hệ đặt mua chất ma túy; tịch thu tiêu huỷ 01 cân tiểu ly là dụng cụ để V phân ma túy sử dụng; trả lại cho V số tiền 1.650.000đ (Kèm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 7 năm 2018 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự.)

4. Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu là 200.000đ (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ