- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đông P - phạm tội sản xuất trái phép chất ma túy (điều 248 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Trần Đông P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2018/HS-ST Ngày: 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Tuyết
2. Bà Châu Thị Lệ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền -
Cán bộ Tòa án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đông P, sinh ngày 27/12/1981 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; nơi cư trú: Đường L, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1936 và bà Trần Thị V, sinh năm 1940; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 18/12/2017; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị nghiện ma túy nên vào khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 18/12/2017,
Trần Đông P đi bộ đến sạp rau chợ Gò Vấp trên đường Nguyễn Văn Nghi, Phường 4, quận Gò Vấp để tìm mua ma túy. Tại đây, P gặp một nam thanh niên tên thường gọi là Tèo (không rõ lai lịch) và hỏi mua 300.000 đồng ma túy, loại Heroin. P đưa 300.000 đồng cho Tèo và nhận lại 03 đoạn ống nhựa bên trong chứa ma túy, loại Heroin và cất vào túi áo bên trái đang mặc, rồi đi bộ về tìm nơi sử dụng. Khi đến trước căn nhà số 01 đường Nguyễn Văn Nghi, Phường 4, quận Gò Vấp thì P bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Gò Vấp phối hợp với Công an Phường 4, quận Gò Vấp kiểm tra và bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm: 03 (ba) đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng; 01
điện thoại di động màu đen hiệu Mobistar, số sim: 0901436484.
Tại bản cáo trạng số 56/Ctr-VKS ngày 20/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Đông P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp thực hành quyền công tố
tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Trần Đông P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù và tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy thu giữ, trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội
dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy nên vào khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 18/12/2017, bị cáo đi bộ đến chợ Gò Vấp trên đường Nguyễn Văn Nghi thuộc Phường 4, quận Gò Vấp để mua ma túy của một người (không rõ lai lịch) với số tiền là 300.000 đồng để sử dụng. Trên đường về thì bị lực lượng cảnh sát kiểm tra, bắt quả tang số ma túy mà bị cáo vừa mới mua được.
Kết luận giám định số 148/KLGĐ-H ngày 29/12/2017 của Phòng Kỹ thuật
Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với lượng ma túy thu giữ của bị cáo như sau: Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Đông P và hình dấu công an Phường 4, quận Gò Vấp gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1631g, loại Heroine. Do đó, Hành vi nêu trên của Trần Đông P đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Theo quy định tại theo điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14
ngày 20/6/2017 của Quốc hội và Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về việc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước khi điều luật có hiệu lực thi hành. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện vào ngày 18/12/2017 có đầy đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù nhẹ hơn so với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) nên việc Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt
động quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như
tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt. Việc áp dụng tình tiết nêu trên cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo phạm tội nhưng không hưởng lợi và có
hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò
Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ,
lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar thu giữ của bị cáo do không có liên quan trong vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều
136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Trần Đông P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt Trần Đông P 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày 18/12/2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu
tiêu huỷ lượng ma túy thu giữ của bị cáo, được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra sau giám định.
Trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar cho Trần Đông P.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 37/LNKVC ngày 20/3/2018 của Viện
Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp).
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,
điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Chi cục THA dân sự Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Đăng Tân |