vanban.org

Bản án 1359/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kiều N cho chị Trần Thị Kiều N được ly hôn anh Võ Xuân V

Về con chung: Giao cháu Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày:11/11/2008 và cháu Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017 cho chị Trần Thị Kiều N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kiều N cho chị Trần Thị Kiều N được ly hôn anh Võ Xuân V
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1359/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08- 12 -2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Phương Thảo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Vân

Ông Nguyễn Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1172/2022/TB-TLVA ngày 06 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 318/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều N , sinh năm: 1985; nơi cư trú: Thôn Hội Tân, xã Nhơn Hội, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh Võ Xuân V , sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn Hội Tân, xã Nhơn Hội, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/8/2022 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn, chị Trần Thị Kiều N trình bày:

Chị và và anh Võ Xuân V chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2008 tại UBND xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V có quan hệ ngoại tình, về nhà có thái độ hành hung, có lúc cầm dao đe doạ chị nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng mặc dù anh chị ở chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống và không còn quan tâm nhau từ tháng 01/2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn anh V để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung

+ Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày: 11/11/2008

+ Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017

Hiện cháu Oanh và cháu Khang đang ở với anh chị, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Oanh và cháu Khang, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngoài ra chị không còn yêu cầu gì khác.

Tại biên bản ghi lời khai bị đơn anh Võ Xuân V trình bày:

Anh thống nhất với trình bày của chị N về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như con chung. Theo anh, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh phát hiện chị N nhắn tin với một người lạ nên vợ chồng thường hay cãi nhau. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì anh còn tình cảm với chị N và hai con còn nhỏ.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung

+ Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày: 11/11/2008

+ Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017

Hiện cháu Oanh và cháu Khang đang ở với anh chị, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Oanh và cháu Khang, yêu cầu chị N cấp dưỡng cháu Oanh và cháu Khang mỗi cháu 1.500.000đ/ tháng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngoài ra anh không còn yêu cầu gì khác.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều N được ly hôn anh Võ Xuân V ; Giao cháu Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày:11/11/2008 và cháu Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017 cho chị Trần Thị Kiều N trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình phát sinh giữa chị Trần Thị Kiều N và anh Võ Xuân V là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn anh Võ Xuân V cư trú tại Thôn Hội Tân, xã Nhơn Hội, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nên tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Xuân V đã được tòa triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Vũ vẫn vắng mặt không có lý do, chị Trần Thị Kiều N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều N và anh Võ Xuân V chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, Bình Định và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39 ngày 14/4/2008 nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống; anh chị đã sống ly thân mà không có biện pháp bàn bạc đoàn tụ. Chị Trần Thị Kiều N cho rằng vợ chồng không còn chung sống từ tháng 01/2022 cho đến nay, không hòa giải đoàn tụ, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tòa án nhiều lần mời anh V đến Tòa làm việc nhưng anh Vũ không có mặt tại phiên tòa, không có ý kiến thể hiện sự bỏ mặc quan hệ hôn nhân với chị Nga. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Trần Thị Kiều N và anh Võ Xuân V lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị N được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung

+ Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày: 11/11/2008

+ Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017

Hiện cháu Oanh và cháu Khang đang ở với anh chị, sức khỏe bình thường. Chị N có đủ điều kiện về chỗ ở và thu nhập để bảo đảm sự phát triển bình thường cho các cháu. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị N về việc nuôi con chung sau ly hôn là phù hợp với qui định tại khoản 3 Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên Tòa không xét.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Trần Thị Kiều N phải chịu theo qui định tại điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn phát biểu về nội dung giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, và các điều 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 và các điều 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kiều N cho chị Trần Thị Kiều N được ly hôn anh Võ Xuân V

2. Về con chung:

Giao cháu Võ Trần Kiều Oanh, sinh ngày:11/11/2008 và cháu Võ Trần Nguyên Khang, sinh ngày: 20/6/2017 cho chị Trần Thị Kiều N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu giải quyết.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.

3. Tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

4. Án phí HNGĐ-ST: Chị Trần Thị Kiều N phải chịu 300.000đ nhưng được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0004581 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo qui định của pháp luật.

6. Về quyền,nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND TP.Quy Nhơn;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Cao Thị Phương Thảo THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

\ Nguyễn Thị Vân Nguyễn Đình Thọ

Cao Thị Phương Thảo

Cỡ chữ