- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng Dân sự đây
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1352/2022/QĐST-DS Ngày: 22-7-2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà:
Bà Phạm Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:
Bà Hồ Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1178/2021/TLST-DS ngày 16/11/2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2022/QĐXXST-DS ngày 30/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2022/QĐST-DS ngày 28/6/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam
Trụ sở: Tầng 1+2 Sailing Tower số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân (có mặt)
(Giấy ủy quyền số 4514921 ngày 06/8/2021)
Bị đơn : Bà Lê Minh Tuyên, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2021, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ký kết hợp đồng:
Ngày 07/5/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam và bà Lê Minh Tuyên có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB), loại thẻ VIB Travel Élite tín chấp. Căn cứ vào thu nhập của bà Tuyên, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Tuyên sử dụng với tổng hạn mức tín dụng là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho bà Tuyên sử dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất và phí được quy định cụ thể trong Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
Thực hiện hợp đồng:
Sau khi được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng bà Tuyên đã sử dụng thẻ để giao dịch với tổng số tiền ghi nợ là 150.000.000đồng. Do bà Tuyên không thanh toán đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng nên bà Tuyên còn phải toán các khoản phí chậm thanh toán, lãi, phí vượt hạn mức và phí thường niên. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng từ khi kích hoạt đến nay bà Tuyên chỉ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc 145.355đồng sau đó bà Tuyên ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào khác cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bà Tuyên trả nợ.
Tính đến ngày 22/7/2022, bà Tuyên còn nợ Ngân hàng các khoản sau:
-
Nợ gốc:
149.854.645 đồng
-
Lãi
125.992.859 đồng
-
Phí các loại
258.905.402 đồng
Tổng cộng:
534.752.906 đồng
Yêu cầu đòi nợ:
Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ nợ vay phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng cho Ngân hàng với tổng số tiền là 534.752.906đồng, trong đó bao gồm 149.854.645đồng tiền nợ gốc + 125.992.859 đồng tiền lãi và 258.905.402đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 22/7/2022.
Bị đơn – bà Lê Minh Tuyên: Bà Tuyên đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với bà Tuyên.
Tại phiên toà:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn – bà Lê Minh Tuyên thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tổng cộng là 534.752.906đồng, trong đó bao gồm 149.854.645đồng tiền nợ gốc + 125.992.859 đồng tiền lãi và 258.905.402đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 22/7/2022.
Bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi và các loại phí phát sinh tính từ ngày 23/7/2022 trên số tiền nợ gốc cho đến khi trả dứt nợ, theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản và bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của ngân hàng mà hai bên đã ký kết vào ngày 07/5/2019.
Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng bà Tuyên vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 01/3/2022 và lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, do bà Tuyên vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Lê Minh Tuyên phải trả cho ngân hàng số tiền còn nợ tổng là 534.752.906 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 23/7/2022 đến khi thanh toán hết số tiền nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam và bà Lê Minh Tuyên là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – bà Lê Minh Tuyên khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số 198/5/7A Phan Văn Trị, Phường 12, quận Bình Thạnh. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 07/5/2022 của Công an Phường 12, quận Bình Thạnh xác định bà Lê Minh Tuyên có đăng ký thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 28/6/2022 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 22/7/2022 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Nguyên đơn yêu cầu bà Lê Minh Tuyên thanh toán số tiền nợ gốc là 149.854.645đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB) ngày 07/5/2019; Bảng chi tiết tính lãi khách hàng Lê Minh Tuyên đối với thẻ tín dụng số 513094xxxxxx665 cùng các lài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cấp thẻ tín dụng cho bị đơn sử dụng với hạn mức 150.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với số tiền là 150.000.000đồng. Trong suốt quá trình sử dụng thẻ, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 145.355đồng rồi ngưng không thanh toán bất kỳ một khoản tiền nào khác cho nguyên đơn, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ. Ngày 04/9/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của bị đơn sang nợ quá hạn theo quy định tại khoản 9.3 Điều 9 và Điều 10 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc phát sinh từ những giao dịch sử dụng thẻ tín dụng số 513094xxxxxx665 mà nguyên đơn đã cấp cho bị đơn sử dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 7 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng và phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn yêu cầu bà Lê Minh Tuyên thanh toán tiền lãi và các loại phí tính đến ngày 22/7/2022 tổng cộng là 384.898.261đồng, trong đó bao gồm 125.992.859 đồng tiền lãi và 258.905.402đồng tiền phí các loại, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng VIB các bên đã thống nhất thỏa thuận, lãi suất được áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng, nên việc bà Tuyên không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian tính lãi, mức lãi suất và phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên mà ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên đương sự được quy định tại Điều 9 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán tiền lãi và các loại phí của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.
Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù đã được toà án tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền tổng cộng là 534.752.906đồng, trong đó bao gồm 149.854.645đồng tiền nợ gốc + 125.992.859 đồng tiền lãi + 258.905.402đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 22/7/2022 là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.
.Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam.
Buộc bị đơn – bà Lê Minh Tuyên phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 07/5/2019 tổng cộng là 534.752.906đồng (Năm trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn chín trăm lẻ sáu đồng), trong đó bao gồm 149.854.645đồng tiền nợ gốc + 125.992.859 đồng tiền lãi + 258.905.402đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và các loại phí được tính đến hết ngày 22/7/2022.
Thời hạn thi hành: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Tuyên còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nếu các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 25.390.116 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm chín mươi ngàn một trăm mười sáu đồng) bà Lê Minh Tuyên phải nộp toàn bộ.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) và 6.384.088đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi bốn ngàn không trăm tám mươi tám đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam, theo biên lai thu số 0000177 ngày 10/11/2021 và biên lai thu số 0050257 ngày 22/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Minh Tuyên được quyền kháng cào trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND TP. HCM; -VKSND quận Bình Thạnh; -THADS quận Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Nguyệt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt |