| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 4 – CÂN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2026/HSST Ngày: 07 - 8 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 4 - CÂN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Ánh Trinh
2. Bà Nguyễn Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huynh Như –Thư ký Toà án nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 – Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phươc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2026, tại tru sơ Toa án nhân dân Khu vưc 4 – Cần Thơ, tiên hành xét xử sơ thẩm công khai vu án hình sư thu lý số: 130/2026/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2026, theo Quyêt định đưa vu án ra xét xử số: 781/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026, Thông báo mơ lại phiên toà số 857/TB-TA ngày 31 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ VĂN B; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/1956; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Nông dân; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không. Con ông: Lê Văn H, sinh năm 1929 (đã chêt); Con bà: Trần Thị M, sinh năm 1929 (đã chêt); Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1956 (là nạn nhân - đã chêt); Con: có 05 người, con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1986; Tiền sư, tiền án: không;
- Bị áp dung biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2025 đên nay tại xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Đại diện bị hại: Các người con của bà Phạm Thị Thuận
Bà Lê Thị T1 – sinh năm 1978; Cư trú: Ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
Bà Lê Thị Kim T2 – sinh năm 1982; Cư trú: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Bà Lê Thị Kim E – sinh năm 1984; Cư trú: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Bà Lê Thị Kim O – sinh năm 1980; Cư trú: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Ông Lê Chúc N – sinh năm 1986. Cư trú: Ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngô Chí H1 – sinh ngày 30/8/2008. Có mặt
Ông Ngô Văn Nhiên A – sinh năm 1978 (cha của H1). Có mặt
Bà Hồ Thị D – sinh năm 1987 (mẹ của H1). Có mặt
Cùng cư trú: Cư trú: Ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VU ÁN:
Qua các tài liệu có trong hô sơ vụ án và quá trinh xet hoi, tranh luân tại phiên toa, nội dung vụ án được tóm tăt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05/12/2024, bị cáo Lê Văn B (không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 65L1-461.09 chơ vợ tên Phạm Thị T - sinh năm 1954, cư trú ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ, lưu thông trên đường Q đi từ xã T (nay là xã V) đên thị trấn V (nay là xã V). Khi đên bên đo số 8 thì bật đèn xi nhan để chuyển hướng sang trái vào chợ số 8 thì thấy hướng ngược lại có đèn xe chiêu sáng chạy đên, khoảng cách con xa nên bị cáo điều khiển qua đường. Khi xe qua phần đường bên trái thì va chạm với xe mô tô biển số 65L1- 300.23 do Ngô Chí H1 (không có giấy phép lái xe hạng A1) - sinh ngày 30/8/2008, cư trú tại ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (nay là ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ) điều khiển chơ mẹ ruột là bà Hồ Thị D - sinh năm 1987, ngu cùng địa chỉ ngồi sau theo hướng ngược lại. Hậu quả làm 02 xe và người té ngã xuống đường. Bị cáo B, H1 và bà D bị thương nhẹ, bà T bị thương nặng được đưa đên Bệnh viện Đ và Bệnh viện Đ1 điều trị, đên ngày 11/01/2025 bà T được gia đình xin xuất viện đưa bà về nhà. Đên khoảng 13 giờ 05 phút ngày 11/01/2025 bà T chêt tại nhà. Gia đình bà T từ chối giám định tử.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với các cơ quan liên quan tiên hành khám nghiệm hiện trường, phương tiện và tạm giữ tang vật gồm:
- 01 xe mô tô biển số 65L1-300.23.
- 01 xe mô tô biển số 65L1-461.09.
Tại kêt luận định giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 24/KLTgTHS-TTPYCT ngày 12/6/2025 của Trung tâm Pháp y thành phố C, kêt luận:
1. Các kêt quả chính:
- Vêt thương cạnh mắt phải, vùng cằm, đùi phải, cánh tay phải.
- Vêt loét vùng mông trái.
- Gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay phải.
- Gãy đầu dưới và lồi cầu ngoài xương đùi phải.
- Xuất huyêt dưới nhện vùng trán-đính hai bên.
- Gãy bờ vai xương ổ mắt phải.
- Gãy xương bướm phải.
- Vỡ xoang hàm phải.
- Gãy phức hợp hàm trên-go má phải.
- Gãy lồi cầu xương hàm dưới bên trái.
2. Kêt luận: Tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị T qua hồ sơ là 64%.
Quá trình điều tra, bà Hồ Thị D và Ngô Chí H1 từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sư, không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sư, và tư nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân T số tiền 110.000.000 đồng. Bị cáo Lê Văn B bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 30.000.000 đồng, phía gia đình bà T không yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng đang giữ: Đối với xe mô tô biển số 65L1-300.23 do ông Ngô Văn Nhiên A, sinh năm 1978, ngu: ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ là cha ruột của H1 đứng tên sơ hữu, việc H1 lấy xe chơ mẹ ruột là bà D đi bị tai nạn, ông Ngô Văn Nhiên A yêu cầu được nhận lại xe. Đối với xe mô tô biển số 65L1-461.09 do ông Lê Chúc N, sinh năm 1986, ngu: ấp Q, xã V, thành phố Cần Thơ, là con ruột bị cáo B đứng tên sơ hữu, bị cáo B lấy xe điều khiển đi xảy ra tai nạn ông N không biêt, ông N yêu cầu được nhận lại xe.
Tại Cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 14 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ, truy tố Lê Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Ngô Chí H1 và bà Hồ Thị D cho rằng bị tai nạn giao thông do bị cáo gây ra nhưng chỉ thương tích nhẹ nên anh H1 và bà D từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sư. Đại diện bị hại xin cho bị cáo được hương án treo.
Kiểm sát viên thưc hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hinh sự: Áp dung điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; năm 2025
+Xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 02 (hai) năm đên 03 (ba) năm tù cho hương án treo, thời gian thử thách là từ 04 (bốn) năm đên 05 (năm) năm.
+Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
Về trách nhiệm dân sự:
+Công nhận bị cáo Lê Văn B đã thoản thuận bồi thường cho đại diện bị hại với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) xong.
+Công nhận anh Ngô Chí H1 và bà Hồ Thị D đã tư nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) xong.
Về xư ly vât chưng:
Trả lại ông Ngô Văn N1 Anh 01 xe mô tô biển số 65L1-300.23 do ông Ngô Văn Nhiên A đứng tên sơ hữu.
Trả lại ông Lê Chúc N 01 xe mô tô biển số 65L1-461.09 do ông Lê Chúc N đứng tên sơ hữu.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hương án treo.
NHÂN ĐINH CỦA HỘI ĐÔNG XET XƯ:
Trên cơ sơ nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thưc hiện đúng về thẩm quyền, trình tư thủ tuc quy định của Bộ luật Tố tung hình sư. Quá trình điều tra và tại phiên toa không có người nào khiêu nại về hành vi, quyêt định của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung đã thưc hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên toa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vu án.
Như vậy, có cơ sơ xác định vào khoảng 05 giờ ngày 05/12/2024, bị cáo Lê Văn B (không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 65L1-461.09 chơ bà Phạm Thị T (vợ) ngồi sau, cho xe chuyển hướng sang bên trái đường không đảm điều kiện an toàn để xe va chạm với xe mô tô biển số 65L1-300.23 do anh Ngô Chí H1 điều khiển chơ bà Hồ Thị D theo hướng ngược lại. Hậu quả tai nạn xảy ra làm cho bị cáo, bà T, anh H1 và bà D bị té ngã xuống đường. Trong đó, anh H1 và bà D bị thương tích nhẹ đã điều trị xong và từ chối giám định thương tích; bà T được gia đình đưa đi điều trị tại bệnh viện từ ngày 05/12/2024, đên ngày 11/01/2025 bà T được gia đình xin xuất viện đưa bà về nhà. Đên khoảng 13 giờ 05 phút ngày 11/01/2025 bà T chêt tại nhà. Do gia đình bà T từ chối giám định tử thi nên không xác định được nguyên nhân chêt. Tại Kêt luận định giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ Số 24/KLTgTHS-TTPYCT ngày 12/6/2025 của Trung tâm Pháp y - Sơ Y tê thành phố C, kêt luận: Tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị T qua hồ sơ là 64%.
Hành vi bị cáo thưc hiện đã trưc tiêp xâm phạm trật tư, an toàn giao thông đường bộ, vi phạm vào khoản 9, 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Bị cáo là người có đủ năng lưc chịu trách nhiệm hình sư, thưc hiện hành vi với lỗi vô ý. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, hành vi bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ thì người điều khiển phương tiện xe cơ giới phải thật sư tập trung chú ý quan sát, tuân thủ các quy tắc, quy định về an toàn giao thông, để tránh xảy ra các lỗi vi phạm và đặc biệt là các tình huống dẫn đên hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo có lỗi do cẩu thả khi cho xe chuyển hướng sang trái không đảm bảo an toàn, đây là nguyên nhân chính đã gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng. Do đó, bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý từ hành vi của mình gây ra, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Khi lượng hình xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường xong được đại diện bị hại xin miên truy cứu trách nhiệm hình sư hoặc cho bị cáo được hương án treo; bị hại cũng chính là vợ của bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đã hơn 70 tuổi. Vì vậy, thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hương án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo duc trong thời gian thử thách cũng đủ tác dung răn đe, giáo duc và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiêt áp dung hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sư; xử lý vật chứng: Như Kiểm sát viên nhận định và đề nghị trên đây là phù hợp, nên chấp nhận.
[6] Về trường hợp anh Ngô Chí H1 điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi không có giấy phép lái xe theo quy định:
Việc xác định nguyên nhân gây tai nạn giao thông theo tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Liên ngành tư pháp Trung ương quy định “1.Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luât hinh sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tăc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hâu quả về tính mạng, sưc khoe và tài sản”. Vậy nên, trường hợp này Ngô Chí H1 tuy không có giấy phép lái xe nhưng đây là lỗi hành chính, không phải nguyên nhân trưc tiêp gây ra tai nạn giao thông. Do đó, không truy cứu trách nhiệm hình sư đối với Ngô Chí H1 và người giao phương tiện xe mô tô cho H1 sử dung tham gia giao thông đường bộ. [7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và có nộp đơn xin được miên tiền án phí, nên xét miên cho bị cáo.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐINH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về trách nhiệm hình sư: Áp dung: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn B 03 (ba) năm tù cho hương án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2026).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo duc trong thời gian thử thách.
Trường hợp người hương án treo thay đổi nơi cư trú thì thưc hiện theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sư năm 2025.
Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
2. Về trách nhiệm dân sư: Áp dung Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sư năm 2015;
+Công nhận bị cáo Lê Văn B đã thoản thuận bồi thường cho đại diện bị hại với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đông) xong.
+Công nhận anh Ngô Chí H1 và bà Hồ Thị D đã tư nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đông) xong.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dung 48 của Bộ luật Hình sư; Điều 106 của Bộ luật Tố tung hình sư.
+Trả lại ông Ngô Văn N1 Anh 01 xe mô tô biển số 65L1-300.23.
+Trả lại ông Lê Chúc N 01 xe mô tô biển số 65L1-461.09.
4. Về án phí: Áp dung Điều 136 của Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo được miên án phí hình sư sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Áp dung Điều 331, 333 Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015;
Bị cáo; đại diện bị hại; người có quyền lợi nghĩa vu liên quan có mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sư vắng mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yêt theo quy định pháp luật.
6. Có giải thích chê định án treo cho bị cáo biêt sau tuyên án.
TM.HỘI ĐÔNG XET XƯ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP . Cần Thơ; - VKSND Khu vưc 4-Cần Thơ; - THADS TP. Cần Thơ; - CATP.Cần Thơ (HSNV); - Bị cáo …; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |