vanban.org

Bản án 135/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 18/06/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngueyenx Thioj t - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2026/HS-PT
Ngày: 18-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Công Hoàn

Ông Hoàng Rung K’Nhơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu; Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 164/2026/TLPT-HS ngày 27/5/2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; nơi thường trú: Thôn PT, xã PTLH, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; căn cước công dân số: 051165007070; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; cha: Nguyễn P (đã chết); mẹ: Võ Thị M; chồng: Lê Tấn B; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 16/08/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện LH, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30.000.000 đồng về tội đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/6/2025. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/07/2025 đến ngày 20/07/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có 10 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 30 ngày 11/07/2025 Công an xã Đức Trọng tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tại khu vực phòng bếp của căn nhà địa chỉ số nhà 281, thôn PB, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng do bà Lê Thị T làm chủ có 10 đối tượng gồm: Nguyễn Thị Kim T1, Lê Thị Hồng L, Lương Thị Thúy V, Lê Thị T2, Lê Mỹ D, Nguyễn Thị Mỹ L2, Huỳnh Thị Hồng Ph, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị T, Đinh Thị Th đang có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài xì lát. Công an xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 12.900.000 đồng, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 05 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu nhựa màu xanh, 01 chăn màu nâu, thu giữ số tiền trên người các đối tượng dùng để đánh bạc số tiền 4.550.000 đồng, thu giữ số tiền 1.200.000 đồng của Lê Thị T.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 8 giờ 00 phút ngày 11/07/2025, các đối tượng Nguyễn Thị Kim T1, Lê Thị Hồng L, Lương Thị Thúy V, Lê Thị T2, Lê Mỹ D, Nguyễn Thị Mỹ L2, Huỳnh Thị Hồng Ph, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị T, Đinh Thị Th đến nhà Lê Thị T; Địa chỉ số nhà 281, thôn PB, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng để đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì lát thắng thua bằng tiền. Các đối tượng không phân công ai là người cầm cái mà lần lượt cầm cái theo vòng, không quy định mức đặt cược cố định, tùy ý người tham gia đánh bạc. Trong vụ án này, Trúc là người cung cấp địa điểm, công cụ cho các con bạc và thu được 300.000 đồng tiền xâu, Trúc không trực tiếp tham gia đánh bạc. Cả nhóm tham gia đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Về vật chứng vụ án: Thu giữ số tiền trên chiếu bạc số tiền 12.900.000 đồng; Thu giữ số tiền trên người các đối tượng dùng để đánh bạc cụ thể: Huỳnh Thị Hồng Ph số tiền 1.700.000 đồng; Nguyễn Thanh T2 số tiền 250.000 đồng; Lê Thị T2 số tiền 1.350.000 đồng; Lương Thị Thuý Vân số tiền 700.000 đồng; Nguyễn Thị Mỹ L2 số tiền 550.000 đồng; Thu giữ tiền trong người Lê Thị T số tiền 1.200.000 đồng; 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 05 bộ bài tây chưa qua sử dụng; 01 chiếu màu xanh; 01 đĩa sứ, 01 chăn màu nâu. Đối với số tiền 1.200.000 đồng thu giữ trên người của Lê Thị T. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của Trúc, không liên quan đến việc đánh bạc. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 17-4-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lâm Đồng đã quyết định.

Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kim T1, Lê Thị Hồng L, Lương Thị Thúy V, Lê Thị T2, Lê Mỹ D, Nguyễn Thị Mỹ L2, Huỳnh Thị Hồng Ph, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị T, Đinh Thị Th phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án (được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025 vào thời hạn chấp hành án).

Ngoài ra, bản án còn quyết định mức hình phạt đối với 10 bị cáo khác (hình phạt tiền 07 bị cáo, cải tạo không giam giữ 02 bị cáo và phạt tù 01 bị cáo), xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 21/4/2026, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo ngoài xã hội để chữa bệnh.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được cải tạo ngoài xã hội để chữa bệnh và xuất trình xác nhận của Chính quyền địa phương về hoạt động ủng hộ, phòng chống dịch Covid-19, hồ sơ bệnh án hiện đang phải điều trị nhiều loại bệnh của tuổi già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chỉ sử dụng 550.000 đồng để đánh bạc, bản thân bị cáo hiện nay đã trên 60 tuổi, hiện nay đang phải điều trị nhiều loại bệnh của tuổi già, gia đình bị cáo có công cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác trong cùng vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 8 giờ 00 phút ngày 11/07/2025, sau khi cùng nhau đi đưa đám ma về, các đối tượng Nguyễn Thị Kim T1, Lê Thị Hồng L, Lương Thị Thúy V, Lê Thị T2, Lê Mỹ D, Nguyễn Thị Mỹ L2, Huỳnh Thị Hồng Ph, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị T, Đinh Thị Th đến nhà Lê Thị T; Địa chỉ số nhà 281, thôn PB, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng chơi, sau đó các đối tượng cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì lát thắng thua bằng tiền, đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc đã được cơ quan điều tra chứng minh là 17.450.000 đồng. Trong vụ án, Trúc là người cung cấp địa điểm, công cụ cho các con bạc và thu được 300.000 đồng tiền xâu, Trúc không trực tiếp tham gia đánh bạc.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Lê Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T1, Lê Thị Hồng L, Lương Thị Thúy V, Lê Thị T2, Lê Mỹ D, Nguyễn Thị Mỹ L2, Huỳnh Thị Hồng Ph, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị T, Đinh Thị Th phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T xin được cải tạo ngoài xã hội để được chữa bệnh thấy rằng, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình xác nhận của chính quyền địa phương về bị cáo có đóng góp, ủng hộ dịch Covid – 19, bệnh án bị cáo hiện nay đang điều trị nhiều loại bệnh của tuổi già, gia đình bị cáo có công cách mạng; xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có anh trai ruột là liệt sỹ, có bố chồng là chiến sỹ cách mạnh bị địch bắt tù đày, bị cáo là phụ nữ hiện nay tuổi đã cao (62 tuổi), bản thân hiện đang phải điều trị nhiều loại bệnh của tuổi già, bị cáo đánh bạc do bộc phát, sau khi đi đưa đám ma về rồi cùng nhau đánh bạc, đánh bạc với số tiền ít (mỗi lần đặt cược chỉ 20.000 đồng đến 100.000 đồng), bản thân bị cáo chỉ sử dụng số tiền 550.000 đồng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên việc cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội để chữa bệnh, không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nên áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 đến ngày 20/7/2025 là 10 ngày tạm giữ tạm giam, quy đổi bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã PTKH, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị T do không có nghề nghiệp ổn định và đã hết tuổi lao động.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ