- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thu H ly hôn anh Trương Quang Đ"
- Tòa quyết gì? Quan hệ về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thu H ly hôn anh Trương Quang Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2026/HNGĐ-ST Ngày 05/9/2026 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Phán;
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Đức, bà Trần Thị Khanh;
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 367/2026/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2026 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 86/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thu H, sinh năm 1997. CCCD số: xxxx.xxxx.xxxx cấp ngày 06/7/2022.
Địa chỉ: thôn LX, xã TT, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Trương Quang Đ, sinh năm 1992. CCCD số: xxxx.xxxx.xxxx cấp ngày 24/7/2017.
Địa chỉ: thôn LX, xã TT, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
Ông Trương Văn T, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn LX, xã TT, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lê Thu H trình bày: Chị và anh Trương Quang Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/10/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở thôn Lôi Xá, xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng sống tương đối hoà thuận, tuy nhiên càng về sau vợ chồng hầu như không có hạnh phúc, thường mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt, kinh tế khó khăn, anh Đ thường xuyên vắng nhà không cho vợ biết, không lo kinh tế gì giúp vợ con. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải, song tình cảm vợ chồng không có gì thay đổi mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, từ lâu mạnh ai người ấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị H xác định chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Trương Phúc K, sinh ngày 22/4/2018, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về thu nhập, Chị H hiện đang làm việc tại bệnh viện Vpmec Hải Dương, mức lương chính 10.000.000 đồng/tháng và được bố mẹ đẻ phụ giúp về chỗ ở, trông con và kinh tế.
Về tài sản chung, vay nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trương Quang Đ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập anh đến Tòa án để làm việc, lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các văn bản tố tụng khác thông qua ông Trương Văn T là bố đẻ, ông T đã giao các văn bản tố tụng cho anh Đ, song anh Đ không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; anh Đ trao đổi với ông T không đồng ý ly hôn với Chị H, về con chung anh Đ có nguyện vọng nuôi con.
Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập anh Đ đến phiên tòa vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/8/2026 nhưng anh Đ vắng mặt không lý do. Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập anh Đ đến phiên tòa vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 05/9/2026, anh Đ vẫn vắng mặt.
Ông Trương Văn T trình bày: Tôi là bố đẻ anh Đ và là bố chồng Chị H. Anh Đ thi thoảng vẫn về nhà và thường xuyên điện thoại nói chuyện với tôi, Toà án đã giao các văn bản tố tụng đầy đủ cho tôi, tôi đã nhận thay và thông báo đầy đủ cho anh Đ bằng điện thoại (chụp gửi ảnh cho anh Đ), anh Đ đã nhận đầy đủ các văn bản của Toà án. Anh Đ có quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố các lời khai, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án; đề nghị Viện kiểm sát khu vực 12 - Hải Phòng phát biểu quan điểm về tố tụng và hướng giải quyết vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về quyền và nghĩa vụ, bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Cho chị Lê Thu H ly hôn anh Trương Quang Đ; Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình giao cháu Trương Phúc K, sinh ngày 22/4/2018 cho Chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu Khang trưởng thành (đủ 18 tuổi), chấp nhận sự tự nguyện của Chị H không yêu cầu anh Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thôn LX, xã TT, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Bị đơn anh Trương Quang Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do; Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử theo thủ tục chung.
. Quan hệ về hôn nhân: Chị Lê Thu H kết hôn với anh Trương Quang Đ là tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong thời gian vợ chồng chung sống anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh chị đã nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc nên anh, chị đã sống ly thân với khoảng 3 năm nay, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Anh Đ đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án thông qua ông T (là bố đẻ) nhưng không đến Toà án làm việc và hoà giải. Như vậy, xác định hôn nhân giữa Chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho Chị H ly hôn anh Đ là phù hợp với khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị H và anh Đ có một con chung là cháu Trương Phúc K, sinh ngày 22/4/2018, cháu đang ở với Chị H. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy Chị H chăm sóc nuôi dưỡng cháu Khang từ khi anh và chị sống ly thân; Chị H có công việc và thu nhập ổn định (khoảng 10 triệu đồng/tháng), có nhà của bố mẹ đẻ. Mặt khác cháu Trương Phúc K có nguyện vọng ở với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của cháu Khang, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị H, giao cho Chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trương Phúc K, sinh ngày 22/4/2018 đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại các Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thu H không yêu cầu anh Trương Quang Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Quan hệ về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thu H ly hôn anh Trương Quang Đ.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thu H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trương Phúc K, sinh ngày 22/4/2018 đến khi cháu Khang thành niên (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thu H không yêu cầu anh Trương Quang Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Án phí: Chị Lê Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai ký hiệu: BLTU/26E số: 0008046 ngày 30/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Chị H, anh Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 12 – Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã Tuệ Tĩnh, TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thiện Phán |