vanban.org

Bản án 135/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Đình S 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ A
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST
Ngày 25/04/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ A, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ph.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức H và ông Nguyễn Đăng Th;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ HM - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 04 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 03/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST- HS ngày 12/04/2024. Địa điểm mở phiên toà: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: đường QĐ, phường ĐN, thành phố A, tỉnh Bắc Ninh và Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

Vụ án được xét xử trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu:

Điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh gồm: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng khác và bà Nguyễn HA, cán bộ tin học.

Điểm cầu thành phần là phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh gồm: Bị cáo Lương Đình S và cán bộ tin học của Trại tạm giam.

Đối với bị cáo: Lương Đình S - Sinh năm 1989 ( tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT Xóm BS, xã NX, huyện NL, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Đình B, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phòng xét xử).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/12/2023 tại khu công nghiệp ĐK, phường ĐK, thành phố A, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường ĐK kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lương Đình S, sinh năm 1989, trú tại: Xóm BS, xã NX, huyện NL, tỉnh Nghệ An đang có hành vi tàng trữ phép 01 gói ma túy để sử dụng cho bản thân. Ngay sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố A để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: Thu tại lòng bàn tay phải của S đang cầm 01 gói nhỏ bọc ngoài lớp giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định pháp luật.

Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố A, tỉnh Bắc Ninh trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Đình S.

Tại Kết luận giám định số 107/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài lớp giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1296 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine”.

Quá trình điều tra Lương Đình S khai nhận: Lương Đình S sử dụng chất ma túy từ tháng 10 năm 2023 đến nay và sống lang thang, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, S đi bộ đến phường ĐB, thành phố A để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, người này nói với S nếu cần mua ma túy thì đi cùng người này. S đồng ý. Người này điều khiển xe mô tô màu tím than (S không nhớ biển kiểm soát) chở S đến khu công nghiệp ĐK, phường ĐK, thành phố A. Tại đây, người này bảo S đưa 90.000 đồng để người này đi mua ma túy hộ. S đưa cho người đàn ông 90.000 đồng rồi xuống xe đợi, còn người này đi một lúc sau quay lại đưa cho S 01 gói nhỏ bọc ngoài lớp giấy màu trắng chứa ma túy Heroine. S nhận gói ma túy thì người đàn ông bỏ đi. S cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải, đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang ở khu vực khu công nghiệp ĐK, phường ĐK thì bị lực lượng công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra, sáng ngày 18/12/2023, S mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng của 01 người thanh niên không quen biết tại phường ĐB, thành phố A và đã sử dụng hết.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTS ngày 03/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh để xét xử bị cáo Lương Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Lương Đình S khai nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra là đúng. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Đình S từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại theo Kết luận giám định số 107/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/12/2023 tại khu công nghiệp ĐK, phường ĐK, thành phố A, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường ĐK kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lương Đình S có hành vi tàng trữ trái phép 0,1296 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Đình S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm vào tội nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo Lương Đình S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Liên quan đến vụ án còn có: Người đàn ông đã chở S và mua ma túy cho S, người đã bán ma túy cho S ngày 18/12/2023 do S không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố A chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/12/2023 của S, ngày 08/3/2024, Công an thành phố A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Đình S 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại theo Kết luận giám định số 107/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ