- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Sinh Chi 2. Ông Nguyễn Thiện Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Đặng Hồ Lĩnh - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cá o:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 29/9/1993, tại Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn S, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và bà: Trịnh Thị L, sinh năm 1972; vợ: Đào Thị Thu H1, sinh năm 1997; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 06/2024/QĐ- TA ngày 19/2/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H, thời hạn 18 tháng. Nguyễn Văn H bỏ trốn nên ngày 07/3/2024, Công an huyện V, tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định số 06/QĐ truy tìm người đã có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn đối với Nguyễn Văn H. Đến nay, H chưa thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nêu trên.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HSST, ngày 15/1/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt Nguyễn Văn H 39 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/01/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2022.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: + Ông Hà Văn D, sinh năm 1967 Trú tại: Tổ A, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình+ Ông Nhâm Văn T1, sinh năm 1958 Trú tại: Tổ G, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Ông D, ông T1 đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 07/6/2024, Nguyễn Văn H đi xe ôm của người không quen biết từ nhà đến ngõ G đường H, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ một đoạn thì gặp và mua được của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, H cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi H đi đến khu vực đường H, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an phường L, thành phố T phát hiện bắt quả tang. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Hà Văn D và ông Nhâm Văn T1, H tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của mình ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của H vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1679 gam. Sau đó tổ công tác đã yêu cầu H và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường L, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine); có khối lượng 0,1679 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm bảy mươi chín gam). Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Bản cáo trạng số 138/CT-VKSTPTB ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì . Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đú ng như nộ i dung Cá o trạ ng và phù hợp với cá c lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lờ i khai củ a ngườ i chứ ng kiế n có trong hồ sơ vụ á n. Ngoài ra còn được chứng minh bằ ng cá c tà i liệ u, chứ ng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường L, thành phố T lập ngày 07/6/2024 tại trụ sở Công an phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình;
- Kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T;
Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại khu vực đường H, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình tổ công tác Công an phường L, thành phố T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1679 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.
Vì vậy, bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
……………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ. [3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy : Hành vi của bị cáo là nguy hiể m cho xã hộ i, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tạ i đị a phương . Mặc dù độ ng cơ phạ m tộ i xuấ t phá t từ việ c nghiệ n chấ t ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, đã từng bị kết án về tội phạm ma túy, song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiệ n ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t . Tội phạm bị cáo thực hiện thuộ c loạ i tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cá o đã gây ra.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự (bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa chấp hành), năm 2020 bị cáo bị kết án về tội phạm ma tuý (đã được xoá án tích). Đây cũng là một trong những tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét quá trình điều tra , truy tố và tạ i phiên tò a bị cá o đã khai bá o trung thự c toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i, do đó bị cá o đượ c hưở ng tình tiế t giả m nhẹ trách nhiệm hình sự “ Ngườ i phạ m tộ i thà nh khẩ n khai bá o ” theo quy đị nh tạ i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củ a bị cá o đã phân tí ch trên thấ y cầ n thiế t phải á p dụ ng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thờ i gian nhất định như mứ c đề nghị của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t tại phiên tòa là phù hợp , nhằm cả i tạ o, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không quyết tâm từ bỏ ma tuý, nhiều lần vi phạm pháp luật liên quan đến ma tuý nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn H khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực ngõ G đường H, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình và người xe ôm chở bị cáo H đến khu vực ngõ G đường H, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình để mua ma túy, H không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1679 gam ma túy loại Heroine thu giữ của Nguyễn Văn H, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1408 gam cùng toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 851/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/6/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H2 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0,1408 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm linh tám gam) và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 851/KL- KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/8/2024)./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT CA thành phố Thái Bình; - Cơ quan THAHS CA thành phố Thái Bình; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS thành phố Thái Bình; - UBND xã Minh Lãng , huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |