vanban.org

Bản án 135/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 23/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/8/2024. Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu vật sau giám định A1= 5,0507 gam và A2= 0,5470 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói là vật cấm lưu hành theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST
Ngày 23 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duẩn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Triển.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến; Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở UBND xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2024/TLST -HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh ngày 11 tháng 9 năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Lê Văn Sàng; Mẹ đẻ: Trần Thị Teo; Hiện đang sinh sống tại xã B, huyện V; Vợ: Nguyễn Thị Thúy H, Con: có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 18/8/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Tường. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 26/6/1979; Nơi cư trú: Thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt).

Người làm chứng:

Ông H, sinh ngày 15/3/1955; địa chỉ: Thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

Người chứng kiến: Ông Lê Xuân T, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1958; địa chỉ: Thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 06 giờ 10 phút ngày 12/8/2024, tại đường dân sinh thuộc thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an xã B, huyện V phát hiện, bắt quả tang Lê Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại túi quần bò dài bên trái của K đang mặc có 01 túi nilon màu trắng, kiểm tra bên trong túi có 33 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng. Tang vật được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1.

- Thu tại túi quần bò dài bên phải của K đang mặc có 03 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng. Tang vật được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2.

K khai nhận các gói nhỏ trên là ma túy Heroine của K vừa mua được với giá 7.200.000đ với mục đích để sử dụng cho bản thân.

- Tạm giữ của K 01 xe mô tô loại Wave, biển kiểm soát 88L1- 528. 83 màu đen đã cũ và qua sử dụng.

Cùng ngày 12/8/2024, Công an xã B, huyện V đã chuyển nguồn tin về tội phạm cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc và vật chứng liên quan như nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngay sau khi tiếp nhận tin báo về tội phạm nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Tường tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại thôn Y, xã B, huyện V. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 12/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra quyết định số 1572 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma tuý của mẫu A1 và A2 thu giữ của K nêu trên. Tại bản kết luận số 2359 ngày 15/8/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,2005g (năm phẩy hai không không năm gam, không kể bao bì loại Heroine (Heroin).

Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5970g (Không phảy năm chín bẩy không gam, không kể bao bì) loại Heroine (Heroin).

Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”

Cơ quan giám định hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: A1= 5,0507gam và A2= 0,5470gam mẫu cùng toàn bộ bao gói, được niêm phong theo quy định, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 16/8/2024, Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung kết luận giám định trên cho K biết, K đồng ý và không có thắc mắc gì.

Về nguồn gốc số ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ, Lê Văn K khai nhận: Do là đối tượng nghiện ma tuý nhiều năm chưa từ bỏ được, thường xuyên đi làm thợ xây ở thành phố Hà Nội vài hôm mới tranh thủ về nhà một lần. Khoảng gần 05 giờ 00 phút ngày 12/8/2024, K đang ở nhà tại thôn Y, xã B, huyện V thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy Heroine. Qua nghe bạn bè quen biết ngoài xã hội nói K biết tại khu vực cầu Chó thuộc tổ dân phố Nam Cường, thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường có người đàn ông bán ma túy Heroine nên K đem theo toàn bộ số tiền công thợ vừa được trả là 7.200.000đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đen (đã cũ) gắn biển kiểm soát 88L1-528.83 của K đi đến địa điểm trên để tìm mua ma túy với mục đích sử dụng dần cho bản thân. Khi đến nơi, K thấy một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi đang đứng một mình, K đi lại gần thì người này hỏi K: “Mày đến đây làm gì đấy?”, K trả lời: “Em đi mua đồ”, người này hỏi K: “Mày mua thuốc phiện chứ gì, mua bao nhiêu?” K hiểu ý người này có ma tuý heroine để bán cho K nên K bảo “Vâng, em mua bảy triệu hai” rồi lấy tiền từ trong túi quần bên phải phía sau đang mặc ra tổng số tiền 7.200.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền polime mệnh giá khác nhau) đưa toàn bộ số tiền này cho người bán ma túy, người đó đếm đủ tiền rồi cất tiền vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và dặn K đứng đợi. Sau đó, người đàn ông trên đi bộ về hướng cổng phụ chợ Giang, thị trấn Thổ Tang, khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho K 01 túi nilon bên trong có chứa nhiều gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, K biết đó là tất cả các gói ma túy Heroine mà K vừa mua được của đàn ông này với giá 7.200.000 đồng. K cất toàn bộ số ma tuý trên vào túi quần bò dài bên trái phía trước K đang mặc rồi điều khiển xe để về nhà tại thôn Y, xã B. Trên trên đường về đến gần địa phận xã B thì K dừng xe, lấy ra 03 gói nhỏ ma túy Her-oine vừa mua được cất vào túi quần bò dài bên phải phía trước đang mặc với mục đích sẽ đem theo đi làm còn số ma túy còn lại K cất lại vào túi quần bò dài bên trái phía trước đang mặc định sẽ cất giấu ở nhà dùng dần rồi tiếp tục điều khiển xe đi về. Khi K đang đi trên đường dân sinh thuộc thôn Y, xã B, huyện V thì bị Công an xã B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng liên quan như nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 118/CT-VKSVT ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Lê Văn K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 05 (Năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/8/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào hồi 06 giờ 10 phút ngày 12/8/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an xã B, huyện V phát hiện, bắt quả tang Lê Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 5,7975gam ma túy heroine để sử dụng cho bản thân. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi quần bò bên trái K đang mặc có 33 gói ma túy heroine có khối lượng 5,2005g và túi quần bò bên phải K đang mặc có 03 gói ma túy heroine có khối lượng 0,5970g để sử dụng cho bản thân.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”…

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi nên nghiện ma túy. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao, song xét thấy ở Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1; Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường là phù hợp.

Đối với người đàn ông K khai không quen biết, khoảng hơn 40 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m 65 đã bán ma túy cho K sáng sớm ngày 12/8/2024 tại khu vực cầu Chó, thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường. Do gặp lần đầu, người này đeo khẩu trang nên K không nhớ đặc điểm gì khác của người này. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã phối hợp với Công an thị trấn Thổ Tang tiến hành rà soát, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch người này. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[ 5] Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, gồm: A1= 5,0507 gam và A2= 0,5470 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu đen (đã cũ) gắn biển kiểm soát 88L1-528.83 tạm giữ của K, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của K cùng vợ là chị Nguyễn Thị Thuý Hà, ngày 12/8/2024 K không tàng trữ, cất giấu ma túy trên chiếc xe trên nên trả lại cho K và chị Hà nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/8/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu vật sau giám định A1= 5,0507 gam và A2= 0,5470 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói là vật cấm lưu hành theo quy định của pháp luật.

Trả lại cho bị cáo Lê Văn K và chị Nguyễn Thị Thuý Hà 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu đen (đã cũ) gắn biển kiểm soát 88L1-528.83 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Tường).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ