- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Mỹ Duyên ly hôn Nguyễn Thanh Bền"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Mỹ D.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-4-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Siêng
Bà Phạm Hoàng Diễm My
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Mỹ D, sinh năm 2002
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định vào ngày 04/01/2021 (Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 04/01/2021). Sau một thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không hạnh phúc. Vợ chồng hay cãi vã chuyện tiền bạc, chị có nhắc nhở anh B đi làm nhưng anh không nghe. Chị và anh B đã không còn sống chung từ tháng 02/2023 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị D yêu cầu ly hôn anh B.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/7/2021, hiện con đang ở với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Tại bản tự khai ngày 06/12/2023 nguyên đơn anh Nguyễn Thanh B trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định vào ngày 04/01/2021 (Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 04/01/2021). Trong quá trình chung sống đôi lúc xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nay chị D yêu cầu ly hôn thì anh B mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đoàn tụ làm ăn nuôi con nên anh B không đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/7/2021, hiện con đang ở với chị D. Anh B không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến về con chung.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, cho ly hôn với anh B; về con chung: giao con chung cho chị D nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu; về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn nên theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh B đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn H, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Thanh B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Qua xác minh tại Công an xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, tàng thư không có thông tin, tài liệu thể hiện anh B đã chuyển khẩu đi nơi khác và nơi cư trú hiện nay của anh B.
Trong thời gian giải quyết vụ án, anh B có văn bản trình bày ý kiến của mình, mong muốn vợ chồng được đoàn tụ, tuy nhiên, sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa thì anh lại không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Anh B không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 91; 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị D và anh B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất điểm quan điểm, anh B không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên chị D cho anh B một cơ hội nhưng chị D kiên quyết ly hôn, bản thân anh B muốn hàn gắn nhưng không có một biện pháp nào rõ ràng, đủ sức thuyết phục để chị D tin tưởng, quay về sống cùng với anh, điều này cho thấy hôn nhân giữa chị D và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị D được ly hôn anh B.
Việc nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/7/2021, hiện con đang ở với chị D. Xét thấy, chị D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N, đồng thời, thời gian qua cháu N do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu N, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên giao cháu N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Mỹ D.
- Về hôn nhân: Chị Lương Thị Mỹ D được ly hôn anh Nguyễn Thanh B.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/7/2021 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo qui định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lương Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005956 ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Hoài Nhơn; - UBND xã Hoài Sơn; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phường |