vanban.org

Bản án 135/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/07/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Việt S - Huỳnh Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/DS-ST
Ngày: 02 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn:

Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 4, thị t, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 4 năm 2024 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 28/3/2021, bà Huỳnh Thị H có mua điện thoại di động hiệu Vivo tại cửa hàng của ông và còn nợ ông số tiền 8.400.000 đồng. Quá trình mua bán, bà H có ký tên vào biên nhận nợ, hẹn thời gian thanh toán là ngày 28/4/2021. Ngày 23/4/2021 bà H có trả cho ông 1.050.000 đồng, sau đó ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng bà H không thực hiện và cứ hứa hẹn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị H trả cho ông S với tổng số tiền là

-1-

7.350.000 đồng và tính lãi chậm trả từ ngày 28/4/2021 đến khi Toà án giải quyết xong vụ án là 10%/năm.

Bị đơn bà Huỳnh Thị H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng bà H vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị H thanh toán tiền mua hàng của ông; bị đơn bà Huỳnh Thị H có địa chỉ cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Do đó, đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Huỳnh Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị H.

Tại phiên tòa, ông S xác định bà Huỳnh Thị H có đến cửa hàng của ông mua điện thoại di động và còn nợ ông số tiền 8.400.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, ông Nguyễn Việt S cung cấp biên nhận nợ ngày 28/3/2021 có chữ ký bà H, nội dung mua điện thoại di động Vivo còn nợ 8.400.000 đồng.

Đến ngày 23/4/2021, bà Huỳnh Thị H có trả cho ông S số tiền 1.050.000 đồng và còn nợ lại 7.350.000 đồng. Đối với bà Huỳnh Thị H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì về việc yêu cầu của ông S và không cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu của ông S. Do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Việt S, buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông S số tiền 7.350.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Tại biên nhận ngày 28/3/2021 có quy định thời hạn thanh toán là ngày 28/4/2021. Từ ngày 28/4/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm, bà H không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Như vậy, đến ngày 28/4/2024, bà H đã vi phạm thời hạn thanh toán nợ cho ông S. Do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Việt S buộc bà Huỳnh Thị H phải có nghĩa vụ trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc là 7.350.000 đồng theo mức lãi suất quy định của pháp luật tính từ ngày 28/4/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

Ông S và bà H không có thỏa thuận về lãi suất nhưng ông S yêu cầu mức lãi suất là 10%/năm xét thấy phù hợp với quy định nên có cơ sở chấp nhận.

Tiền lãi của số tiền vay 7.350.000 đồng từ ngày 28/4/2021 đến 02/7/2024 là 2.335.000 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi là 9.685.000 đồng.

-2-

Như vậy, buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ trả cho ông S tổng số tiền 9.685.000 đồng. Trong đó, nợ gốc là 7.350.000 đồng, nợ lãi là 2.335.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông S không phải chịu án phí. Bà Huỳnh Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 484.250 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 430, Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.685.000 đồng (chín triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003423 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 484.250 đồng (bốn trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

-3-

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ