- Tranh chấp gì? án hình sự — "THĂNG Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Xin Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP TỈNH BN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2023/HS-ST Ngày: 21/09/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh H.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân X, bà Trần Huyền T.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí T– Thư ký Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh BN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Q- Kiểm sát viên.
Ngày 21/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh BN xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2023/QĐXXST-HS, ngày 08/9/2023 đối với bị cáo:
Xin Văn T, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Thôn TT, xã TT, huyện XM, tỉnh HG; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Xin Sào T, sinh năm 1973 và bà Tải Thị P, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Thị H sinh năm 1990, con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con bé sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BN (có mặt tại phòng xử trực tuyến).
Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Việt K, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh BN (có mặt).
Ngƣời tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Đức Đ- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện YP. Có mặt.
- Ông Trần Văn Đ- Cán bộ Công an huyện YP. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân T thường xuyên sử dụng ma túy Heroine từ khoảng giữa năm 2020 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 08/6/2023, T thuê xe ôm của một người thanh niên không quen biết từ thôn MX, xã VM, huyện YP đến khu chung cư Vigalacera thuộc thôn Ô C, xã ĐT, huyện YP để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, T xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông không quen biết. T hỏi người đàn ông này: “có ma túy bán không bán cho 100.000 đồng?”. Người đàn ông trả lời: “Có”. T đưa cho người này 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, T đi bộ để tìm nơi sử dụng còn người đàn ông bán ma túy đi đâu T không biết. Khi T đi bộ trong khu chung cư Vigalacera thuộc thôn Ô C, xã ĐT, huyện YP thì thì bị lực lượng Công an xã ĐT kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, sau đó niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1412 gam là ma túy, loại ma túy: Heroine”
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YP, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 128/CT-VKSYP ngày 05/09/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN truy tố bị cáo Xin Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Xin Văn T khai nhận: Bị cáo đã thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu, số ma túy Công an thu giữ đúng là của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại khu chung cư Viglacera thuộc thôn Ô C, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ của bị cáo, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Xin Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Xin Văn T từ ……… tháng tù đến ………… tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định và 01 que thử nước tiểu.
Lưu trong hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YP.
Tại phiên tòa, Người bào chữa cho bị cáo Xin Văn T trình bày: Bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình là đã mua 01 gói nhỏ ma túy heroin mục đích để sử dụng cho bản thân, đúng người, đúng tội danh. Bản thân bị cáo phạm tội là lần đầu, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng nào và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nhận ra sai lầm của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế, ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về địa phương để trở thành công dân tốt.
Bị cáo nhất trí với ý kiến trên của Người bào chữa, không bổ sung ý kiến gì và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện YP, tỉnh BN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng khác có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Khoảng 11 giờ ngày 08/6/2023 tại khu chung cư Viglacera thuộc thôn Ô C, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN, lực lượng Công an xã ĐT, huyện YP đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Xin Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1412 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Xin Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của VKSND huyện YP truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho đời sống xã hội. Xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác. Ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự an toàn xã hội nói chung và trên địa bàn xã ĐT, huyện YP nói riêng. Bị cáo nhận thức được những tác hại đó, biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên đã phạm tội. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là dân tộc thiểu số, hiểu biết…., ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về địa phương để hòa nhập cộng đồng.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung Ngân sách nhà nước, nhưng xét bị cáo tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời bất chính, bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định và không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma tuý còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 que thử nước tiểu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa CD có nội dung ghi âm khi hỏi cung bị cáo là tài liệu quan trọng nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Liên quan đến vụ án còn có người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người thanh niên lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YP không có căn cứ để điều tra, xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn….
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Xin Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Các Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Xin Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo T.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định và 01 que thử nƣớc tiểu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2023.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh, huyện;
- Công an huyện YP;
- Chi cục THADS huyện YP;
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP;
Nguyễn Thị Minh H
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh H TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN YP
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BN
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Minh H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Xuân Xế.
2. Bà Trần Huyền Trang.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Vào hồi giờ phút ngày 21/9/2023, tại phòng nghị án TAND huyện YP, tỉnh BN. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Xin Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện YP truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo: Xin Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Xin Văn T ……………. tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo T.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Xin Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong có chứa que thử nước tiểu đã được sử dụng của Xin Văn T, trên phong bì có ghi người nhận: Cơ quan CSĐT Công an huyện YP (Mẫu vật còn lại sau giám định, kèm theo kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của phòng PC09 gồm: vỏ đựng mẫu vật và 0,0930 gam mẫu vật còn lại sau giám định).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Xin Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. (có miễn không tùy Chị).
Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./..
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh H TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN YP
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
TỈNH BN
––––––––––––––– Số: /2023/HSST-QĐTG
YP, ngày 21 tháng 9 năm 2023
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
–––––––––––––––
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh H.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Huyền Trang.
Ông Tạ Xuân Xế.
Căn cứ vào các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Tạm giam bị cáo: Xin Văn T, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Thôn TT, xã TT, huyện XM, tỉnh HG.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: …………. tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là: 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Điều 2.
Trại tạm giam Công an tỉnh BN có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Trại tạm giam, nhà tạm giữ; - VKSND huyện YP; - Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Minh H TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN YP
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BN Số: /2023/TLAHS
YP, ngày 21 tháng 9 năm 2023
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số:
/2023/HSST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân huyện YP đối với bị cáo:
Xin Văn T, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Thôn TT, xã TT, huyện XM, tỉnh HG.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Xin Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Xin Văn T
tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.
| Nơi nhận: - Trại giam; - Nhà tạm giữ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Minh H |