- Tranh chấp gì? án hình sự — "VVD giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135 /2023/HS-PT ! Ngày: 22/02/2023 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
-----------------------------------------------!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Ông Vũ Quang Huy
Các"Thẩm"phán: Ông Hoàng Văn Thành
Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến
- Thư ký phiên toà:Ông Nguyễn Đăng Khoa-Thư"ký"Toà"án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:Ông Đặng Khánh Hưng - Kiểm"sát"viên."
Ngày22tháng02năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội,xét xửphúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 940 /2022/TLPT-HS ngày21/11/2022 đối với các bị cáoVVD, NTL, NXTdo có kháng cáo của các bị cáoVVD, NTL, NXTđối với Bản án số300/2022/HS-ST ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
* Các bị cáo có kháng cáo:!
1. VVD, sinh năm: 1977; HKTT: Số 14C8 NXT thể GV, phường GV, quận BĐ, TP. Hà Nội; Chỗ ở: P421 - B5 tập thể KL, phường KL, quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công an. Ngày 05/5/2022, đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân theo Quyết định số 3064/QĐ-BCA ngày 05/5/2022 của Bộ Công an; Đảng viên: Là Đảng viên đang sinh hoạt Đảng tại Đảng bộ Công an huyện Thường Tín (đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 14/7/2022); Con ông VVC và bà NTP; Có 02 con: con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án/tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản số 223 ngày 31/3/2022 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
2. NTL, sinh năm: 1990; ĐKHKTT: Thôn NĐN, xã NT, huyện TH, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 82 PNT, phường TT, quận ĐĐ, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông NVS và bà ĐTD; Có vợ là NTL và có hai con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản số 225 ngày 31/3/2022 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo đầu thú ngày 19/3/2022; Bị tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
1
3. NXT; sinh năm: 1994; ĐKHKTT: Thôn YM, xã QL, huyện HL, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 82 PNT, phường TT, ĐĐ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông NVB và bà VTL; Tiền án, tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản: Số 223 ngày 31/3/2022 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo đầu thú ngày 19/3/2022; Bị tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
* Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:
- TVM, sinh năm: 2002; HKTT: Thôn B, xã TT, huyện TT, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 82 PNT, phường TT, ĐĐ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông TVN và Con bà VTD; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/12/2019, tại bản án số 119/2019/HSST Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự xã hội theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; Danh bản, chỉ bản số 224 ngày 31/3/2022 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo đầu thú ngày 19/3/2022, bị tạm giữ ngày 20/3/2022; Hiện đang bị tạm giam; Vắng mặt.
* Các bị hại: !
1. Ông PĐN, sinh năm 1962; HKTT: Số 50 YP, phường YP, TH, Hà Nội.
2. Anh CMQ, sinh năm 1996; HKTT: Ngõ 62 VTS, phường TT, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3. Anh PDH, sinh năm 1993; HKTT: Số 316 PH, phường PH, HBT, Hà Nội.
4. Anh PNA, sinh năm 1986; HKTT: Số 70 VPT, CV, BĐ, Hà Nội.
5. Anh TĐQ, sinh năm 1996; HKTT: Khu phố PK, SS, Thanh Hóa.
6.Chị NTQN, sinh ngày 05/11/2005; Người đại diện hợp pháp: Bà BTL(mẹ đẻ);Cùng HKTT: Tổ 1KB, TO, Hà Nội
7. Chị PTN, sinh năm 1993; HKTT: Thôn 1, SP, PT, Hà Nội.
8. Anh NNT, sinh năm 1996; HKTT: Số 144 MTB, phường TN, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.
9. Anh NTĐ, sinh năm 1989; HKTT: P707 - 27A3 tòa nhà GS, CN1, BTL, Hà Nội.
10. Anh TMĐ, sinh năm 1991; HKTT: Số 75 ngõ 15 ND, PX, BĐ, Hà Nội.
11. Chị NTTH, sinh năm 1998; HKTT: số 59/25 MT, MT, NTL, Hà Nội.
12. Anh NHQ, sinh năm 1988; HKTT: số 16A - 107 THĐ, CN, HK, Hà Nội.
13. Anh TVT, sinh năm 1xxx; HKTT: Phòng 405 Chung Cư XM, YN, HĐ, Hà Nội.
2
14.Anh PVT, sinh năm 1994; HKTT: NK, VL, Thanh Hóa.
15. Anh NHH, sinh năm 1988; HKTT: Căn hộ 1009 khu căn hộ dịch vụ GM, PD, BTL, Hà Nội.
16. Anh LXQ, sinh năm 1993; HKTT: P704 Tòa B11A KĐT NTY, TH, CG, Hà Nội.
17. Anh ĐQT, sinh năm 1984; HKTT: Số 7/521/170 TĐ, TL, HM, Hà Nội.
-"(Những"người"trên"đều"vắng"mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h45’ ngày 18/3/2022, Công an phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội nhận được tin báo có hoạt động kinh doanh Karaoke trái quy định về việc phòng chống dịch Covid-19 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tại quán Karaoke LD - số 82 PNT, phường TT, ĐĐ, Hà Nội. Ngay sau đó, tổ công tác Công an phường Trung Tự đã tiến hành tới hiện trường để kiểm tra, xác TVM. Thời điểm kiểm tra, tổ công tác đã nhiều lần dùng loa tuyên truyền yêu cầu mở cửa, tuy nhiên quán vẫn không mở cửa. Đến khoảng 08h00’ ngày 19/3/2022, tổ công tác đã tiến hành mở cửa để đưa 17 người bị giữ trong quán ra ngoài.
Quá trình điều tra, hồi 16h00’ ngày 19 tháng 3 năm 2022, TVM, NTL, NXT đã đến công an phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội đầu thú.
Cơ quan Công an đã thu giữ của các bị cáo các đồ vật, tài sản như sau: Thu giữ của TVM 01 chiếc điện thoại di động Iphone X màu hồng, kèm sim số 0335733xxx; Thu giữ củaNTL 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen, kèm sim số 0965xxxxxx; Thu giữ của NXT 01 chiếc điện thoại NOKIA 520 màu vàng, kèm sim số 0337737xxx.
Đến khoảng 17h00’ngày 06/5/2022, VVD đến Công an quận Đống Đa đầu thú.
Qua điều tra đã xác định: Quán karaoke LD - số 82 PNT, phường TT, quận ĐĐ, Hà Nội do ĐTH (sinh năm 1977; HKTT: P112 C10 AD, YP, TH, Hà Nội - là người chung sống như vợ chồng với VVD) đứng tên đăng ký kinh doanh dịch vụ karaoke. Tuy nhiên, quán karaoke LD do vi phạm quy định kinh doanh nên bị thu hồi giấy phép kinh doanh. Bản thân ĐTH ngày 17/6/2021 bị Công an quận Đống Đa khởi tố, bắt tạm giam về hành vi Chống người thi hành công vụ.
Sau khi ĐTH bị bắt, VVD tiếp tục điều hành hoạt động của quán karaoke LD trong điều kiện quán bị thu hồi giấy phép kinh doanh và tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các cơ sở kinh doanh karaoke không được phép hoạt động. VVD thuê TVM, NTL, NXT làm nhân viên của quán LD với nhiệm
3 vụ từng người như sau: NXT trực quầy lễ tân, đón khách vào hát, trực camera an ninh, thu ngân. NTL và TVM trực tiếp phục vụ tại các phòng hát.
Ngày 18/3/2022, VVD chỉ đạo TVM, NTL, NXT mở cửa quán Karaoke LD đón khách vào hát trái quy định phòng chống dịch Covid-19 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Trong khoảng thời gian từ khoảng 21h00 đến 22h00’ ngày 18/3/2022, đã có 03 nhóm khách đến hát quán karaoke LD, cụ thể:
*"Tại"phòng"501"có"03"người"gồm:ĐQM, XTD, PTH.
*Tại"phòng"502"có"11"người"gồm:PĐN, CMQ, PDH, PNA, TĐQ, NTV, NTL, NTM, NTQN, NTT, NTH;
*Tại" phòng" VIP" 6" có" 11" người" gồm:PTN, NNT, NTĐ, TMĐ, NTTH, NHQ, TVT, PVT, NHH, LXQ, ĐQT.
Quá trình ngồi hát, đến khoảng 23h00’ cùng ngày, các nhóm khách ở cả 03 phòng hát đều lần lượt yêu cầu thanh toán để ra về. Cùng lúc này, tổ công tác công an phường Trung Tự đến quán yêu cầu mở cửa để kiểm tra hành chính thì VVD dùng số điện thoại 0989727xxx của mình gọi vào số 0335733xxx của TVM và số 0965xxxxxx của NTL chỉ đạo TVM và NTL không cho khách về; gọi điện vào số 0337737xxx của NXT chỉ đạo NXT khóa cửa, không mở cửa cho ai ra ngoài. Sau khi nhận điện thoại của VVD, NXT khóa cửa lối ra tầng 1, tầng 2 còn TVM, NTL đứng tại khu vực cầu thang tầng 5 chặn không cho khách đi xuống để ra về. Khi có 02 khách trong phòng 501 là anh XTD và anh TVM yêu cầu được ra về nhưng TVM, NTL không cho đồng thời tại phòng VIP6 có chị PTN, chị NTTH, anh CMQ, anh NTĐ, anh PVT, anh LXQ, anh NNT cùng những người khách trong phòng hát liên tục thay nhau ra yêu cầu được về nhưng TVM, NTL không cho ra về. Quá trình đứng chặn ở bên ngoài, TVM và NTL bàn bạc, thống nhất với nhau về việc nếu như khách tiếp tục yêu cầu đòi ra về thì sẽ đánh những người khách này.
Đến khoảng hơn 00h00’ ngày 19/3/2022, NXT cầm theo chìa khóa cửa cùng VVD, TVM, NTL và 03 nhân viên dịch vụ: PTH, NTT, NTH với 05 khách đến hát gồm: ĐQM, XTD (phòng 501), NTV, NTL, NTM (phòng 502) đi lên tầng thượng của quán, dùng 01 chiếc dây vải có sẵn trên sân thượng đu dây xuống nhà số 1 Nguyễn Ngọc Doãn, Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội rồi trèo vào nhà nghỉ Hồng Ngọc (số 3 Nguyễn Ngọc Doãn, Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội - là nhà không có người ở) để trốn tránh lực lượng Công an, bỏ mặc những người còn lại ở trong quán.
Đến khoảng 08h00’ ngày 19/3/2022, Tổ công tác Công an phường Trung Tự đã tiến hành mở cửa Quán Karaoke LD đưa được 17 người bị giữ trong quán ra ngoài. Sau đó, khoảng 16h00’ cùng ngày, Tổ công tác đã phát hiện yêu cầu tất cả những người đang trốn trong nhà nghỉ Hồng Ngọc về trụ sở Công an phường Trung Tự làm việc.
* Tại Bản án số300/2022/HS-ST ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dânquận Đống Đa đã quyết định:Tuyên bố: Các bị cáo VVD, TVM, NTL và NXTphạm tội “Giữ người trái pháp luật”.Căn" cứ:Điểm đ khoản 2 Điều 157; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạtVVD 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt TVM 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2022. Xử phạt NTL 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ
4 ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022. Xử phạtNXT 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022.Ngoài ra bản án sơ thẩm còn có các quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 và 15/10/2022 các bị cáo VVD, NTL, NXTcó đơnkháng cáo xin được giảmhình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo TVM và các bị hại, đại diện hợp pháp bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm."
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
-Các bị cáoVVD, NTL, NXTgiữ nguyên kháng cáo của mình, khai như đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Các bị cáo công nhận bị kết án về tội danh như quyết định của bản án sơ thẩm là đúng người, đúng tội, các bị cáo không bị oan, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, cần được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm;Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật”là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩmkhông chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin đượcgiảm hình phạt và xin được hưởng án treo, giữ nguyên các quyên định của bản án sơ thẩm về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về!tố!tụng:Kháng cáo của các bị cáoVVD, NTL, NXTđược làm trong thời hạn luật định,đảm bảo về chủ thể kháng cáo theo Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; hình thức và nội dung đơn kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo trên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2].Về!nội!dung:
[2.1]"Về"tội"danh"và"điều"luật"áp"dụng:""
Lời khai của các bị cáo tạiphiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, vật chứng đã thu giữvà các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22h45’ ngày 18/3/2022, Công an phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội tới Quán Karaoke LD(số 82 PNT, phường TT, ĐĐ, Hà Nội) dùng loa tuyên truyền yêu cầu mở cửa quán để kiểm tra do có hoạt động kinh doanh trái phép.
5 Thấy có lực lượng Công an đến kiểm tra và nhiều người khách yêu cầu mở cửa quán để ra về, VVD dùng số điện thoại 0989727xxx của mình gọi vào số0335733xxx của TVM và số 0965xxxxxx của NTL chỉ đạo TVM và NTL không cho khách về; đồng thời VVDgọi điện thoại vào số 0337737xxx của NXT chỉ đạo NXT khóa cửa, không mở cửa cho ai ra ngoài. Sau khi nhận điện thoại của VVD, NXTđã khóa cửa lối ra tầng 1, tầng 2.TVM vàNTL đứng tại khu vực cầu thang tầng 5 chặn không cho khách đi xuống để ra về. Các anh XTD, anh TVM, chị PTN, chị NTTH, anh CMQ, anh NTĐ, anh PVT, anh LXQ, anh NNT cùng những người khách trong các phòng hát liên tục yêu cầu được ra về nhưng NXT đã khóa cửa và TVM, NTL không cho khách ra khỏi quán. Quá trình đứng chặn ở bên ngoài, TVM và NTL bàn bạc, thống nhất với nhau nếu như khách tiếp tục yêu cầu đòi ra về thì sẽ đánh những người khách này. Tổng số có 17 người bị giữ trong quán. Đến khoảng 08h00’ ngày 19/3/2022, Tổ công tác đã tiến hành mở cửa để đưa 17 người bị giữ trong quán ra ngoài.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, xâm phạm quyền tự do của người khác. Các bị cáo là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết áncác bị cáovề tội“Giữ"người"trái"pháp"luật”theo điểm đ khoản 2 Điều 157của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[2.2]"Xét"kháng"cáo"của"các"bị"cáo:"
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo VVD, NTL, NXTcó đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Trong vụ án này các bị cáo giữ trái phép 17 người, phạm tội nghiêm trọng, có khung hình phạt đến 07 năm tù. Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú; các bị cáo NTL, NXT là người làm thuê, thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo VVD; bị cáo VVD có bố mẹ đã tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương, để từ đó áp dụng điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xử phạt bị cáo VVD 28 tháng tù, các bị cáo NTL, NXT mỗi bị cáo 24 tháng tù.
- Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trong xã hội, đặc biệt các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi của mình trong giai đoạn Nhà nước và toàn xã hội đang nỗ lực ngăn chặn, phòng ngừa sự lây lan của dịch bệnh Covid-19, quán Karaoke LD nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước đó đã bị thu hồi giấy phép kinh doanh do có nhiều vi phạm khác. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm đã xem xét, tại cấp phúc thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Vì vậy,Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
[2.3]"Về"các"nội"dung"khác:"
6
Rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm: Trong vụ án này bị hại NTQN là người chưa thành niên, nhưng cấp sơ thẩm không truy tố, xét xử các bị cáo theo điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có thiếu sót. Tuy nhiên, xét thấy nội dung trên không có kháng cáo, không bị kháng nghị, các bị cáo cũng đã bị truy tố, xét xử theo điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, nên để ổn định bản án Tòa án cấp phúc thẩm chỉ nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáophải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo TVM, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự."""
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
1. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo VVD, NTL, NXT về việc xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Giữ nguyên quyết định của Bản án số 300/2022/HSSTngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội về phần tội danh, hình phạt đối với các bị cáoVVD, NTL, NXT, cụ thể như sau:
*!Áp!dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 157; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử!phạt!bị!cáo:!VVD!28!(hai!mươi!tám)!tháng!tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu thi hành án.
-!Xử!phạt!bị!cáo:!NTL24!(hai!mươi!bốn)!tháng!tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022.
-!Xử!phạt!bị!cáo:!NXT24!(hai!mươi!bốn)!tháng!tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến ngày 16/6/2022.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về phần tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo TVM, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự."""
3. Về án phí:Áp dụng: khoản 2 Điều 136Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
7
Buộc các bị cáo VVD, NTL, NXT mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản"án"phúc"thẩm"có"hiệu"lực"pháp"luật"kể"từ"ngày"tuyên"án./."
"
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
| Nơi nhận: -"TAND"cấp"cao"tại"Hà"Nội;" -"VKSND"cấp"cao"tại"Hà"Nội;" -"VKSND"thành"phố"Hà"Nội;" -"TAND"quận"Đống"Đa;" -"VKSND"quận"Đống"Đa;" -"Công"an"quận"Đống"Đa;" -Chi"cục"THADS"quận"Đống"Đa;" -""Các"bị"cáo;" -"Những"người"tham"gia"tố"tụng"khác." -"Lưu"hồ"sơ,"văn"phòng. ! " " " " " " ! ! ! ! ! ! ! ! ! " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " ! " " " " " " " " " " " " " " " " " " " ! ! ! ! ! ! " | THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! Vũ!Quang!Huy! 8 9 10 11 12 13 14 |