vanban.org

Bản án 135/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Quyền Trân, sinh ngày 19/7/2018 cho chị N được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh S không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Nguyễn Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 6 - 2023
V/v Xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp“Xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp Tân H, xã Tân H1, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp Tân H, xã Tân H1, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H1, huyện Cái Nước. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nH1 thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm. Mặc dù hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nH1 vẫn không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh S không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh S có 03 con chung tên: Nguyễn Trọng Nghiêm sinh ngày 19/5/1995, Nguyễn Bé Quyền sinh ngày 01/01/2001 và Nguyễn Thị Quyền Trân, sinh ngày 19/7/2018. Đối với Trọng Nghiêm và Quyền đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Nguyễn Thị Quyền Trân, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trân, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình bày bổ sung gì thêm.

* Bị đơn là anh Nguyễn Văn S được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nH1 vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn S là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Văn S có địa chỉ cư trú tại ấp Tân H, xã Tân H1, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nH1 vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn S tự nguyện sống chung từ năm 1994 đến năm 2012 chị và anh S có đăng ký kết hôn kết tại Uỷ ban nhân dân xã Tân H1, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh S đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị N trình bày, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chị chung sống hạnh phúc nH1thời gian dần về sau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, hai bên gia đình có hàn gắn nhiều lần nH1 không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh S không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

Đối với anh S, quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nH1 vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị N. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh S đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được đúng như chị N xác định. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị N xác định chị và anh S có 03 con chung tên: Nguyễn Trọng Nghiêm sinh ngày 19/5/1995, Nguyễn Bé Quyền sinh ngày 01/01/2001 và Nguyễn Thị Quyền Trân, sinh ngày 19/7/2018. Đối với Trọng Nghiêm và Quyền đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với Nguyễn Thị Quyền Trân, sau khi ly hôn chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trân, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”. Tại phiên tòa chị N xác định từ khi ly thân với anh S thì chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quyền Trân và chị đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trân cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao cháu Trân cho chị N được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh Nguyễn Văn S không trực tiếp nuôi con, nH1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Chị N xác định chị và anh S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Chị N xác định chị và anh S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Quyền Trân, sinh ngày 19/7/2018 cho chị N được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh S không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 20 tháng 02 năm 2023 chị N có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008834 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị N có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh S vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ