vanban.org

Bản án 135/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 22/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Nguyễn Khánh D6.

Buộc ông Nguyễn Khánh D6 thanh toán cho Ngân hàng N1, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2023) bao gồm các khoản sau: Nợ gốc: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ND Ngân hàng N; BD Nguyễn Khánh D"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Nguyễn Khánh D6.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2023/DS-ST
Ngày: 22 - 9 - 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Thái Trung Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 221/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1; địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Ngọc T - Phó Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh thị xã V; địa chỉ: Số D đường N, khóm A, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Khánh D năm 2002Địa chỉ: Số F, ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn K, Sinh năm 1976. Địa chỉ: Số F, ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.(có mặt)

2/ Bà Huỳnh Thị H, Sinh năm 1979. Địa chỉ: Số F, ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 12 năm 2022 (BL01-02) của nguyên đơn Ngân hàng N1 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Ngày 26/12/2020Ngân hàng Nông nghiệp N1 - Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng với ông Nguyễn Khánh D1 kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202001471Theo Hợp đồng, Ngân hàng N1 - Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Khánh D2 tiền là 140.000.000(Một trăm bốn mươi triệu đồng Mục đích vay: Nuôi tôm.suất 10.5%/năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 8 thángĐể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Nguyễn Khánh D3 nguyện giao cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Không ký kết hợp đồng thế chấp tài sản) như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 645631có diện tích 12.5642 (loại đất: 1Lthửa số 269tờ bản đồ số 06tọa lạc tại Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng)Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho Hộ ông Nguyễn Văn K ngày 13/09/1997

Tính đến hết ngày 22/09/2023, tổng nợ của ông Nguyễn K1 Duy195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 140.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng.

Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N1

- Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Khánh D4 thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng N1 số tiền 195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 140.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng và buộc ông Nguyễn Khánh D4 tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-20200147126/12/2020kể từ ngày 23/9/2023 cho đến ngày thực tế ông Nguyễn Khánh D5 hết nợ gốc cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H vắng mặt tại tất cả các buổi giải quyết của Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K tại phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh D6 là con ông K, trước đây D6 có vay tiền của Ngân hàng và ông K có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông K để thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho D6 vay tiền, đưa quyền sử dụng đất cho Ngân hàng giữ nhưng không có ký hợp đồng thế chấp. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu D6 thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông K không có ý kiến, sẽ cố gắn kiếm tiền để thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K chấp hành đúng pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn với số tiền 195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 140.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202001471ngày 26 tháng 12 năm 2020 kể từ ngày 23/9/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Quyết định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông D6 và bà H theo quy định pháp luật. [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng N1 có ký Hợp đồng tín dụng 7606-LAV-202001471ngày 26 tháng 12 năm 2020 với bên vay ông Nguyễn Khánh D6, mục đích vay để nuôi tôm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông D6 trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D6 có nghĩa vụ thực hiện trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn, Ngân hàng N1 với bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 về việc yêu cầu bị đơn trả tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2023) với tổng số tiền 195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 140.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng.

Xét Hợp đồng tín dụng số 606-LAV-202001471 ngày 26 tháng 12 năm 2020 Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng tín dụng đã ký ngày 26/12/2020 và giấy nhận nợ đề ngày 26/12/2020 ông D6 nhận tiền vay của Ngân hàng là 140.000.000 đồng, thời hạn vay là 08 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 10,5%/năm và lãi suất quá hạn là 15,75%/năm. Ngân hàng nhiều lần đôn đốc ông D6 thực hiện trả nợ gốc và lãi, nhưng ông D6 vẫn không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các đương sự, các đương sự thừa nhận không ai phản đối tình tiết đã giao kết Hợp đồng, cũng không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay để nuôi tôm là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều kiện cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự nên Ngân hàng yêu cầu ông D6 thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử (22/9/2023) là 195.022.917 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 23/9/2023 cho đến khi trả hết nợ vay và các nghĩa vụ tương ứng khác là có căn cứ để chấp nhận.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 606-LAV-202001471 ngày 26 tháng 12 năm 2020 có lãi suất thỏa thuận 10,5%/năm đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông D6 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị Ngân hàng xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D6 phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 22/9/2023 với số tiền là 195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 140.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng và lãi phát sinh cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả hết nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn giao cho Ngân hàng giữ làm tin, nhưng bị đơn cũng không có yêu cầu gì đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ngân hàng đang giữ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 23/9/2023) bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 606-LAV-202001471 ngày 26 tháng 12 năm 2020 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 7; khoản 2 Điều 8; Điều 10; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11- 01 - 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Nguyễn Khánh D6.

Buộc ông Nguyễn Khánh D6 thanh toán cho Ngân hàng N1, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2023) bao gồm các khoản sau:

- Nợ gốc: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng);

- Nợ lãi trong hạn: 39.567.500 đồng (ba mươi chín triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng);

- Nợ lãi quá hạn: 15.455.417 đồng (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm mười bảy đồng).

Tổng cộng: 195.022.917 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười bảy đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 23/9/2023) ông Nguyễn Khánh D6 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 606-LAV-202001471 ngày 26 tháng 12 năm 2020 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Khánh D6 phải chịu án phí là 9.751.146 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Ngân hàng N1 không phải chịu án phí sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.728.503 đồng (bốn triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn năm trăm lẻ ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008433, ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA);

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã Vĩnh Châu;

- Đương sự;

- Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;

- Lưu HSVA.

Dương Chiêu Hùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA XỬ Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Thái Trung N

Dương Chiêu H1

Cỡ chữ